Thứ Sáu, 15 tháng 3, 2013

Cuộc sống trên đảo Sinh Tồn, Cô Lin và Len Đảo

Cụm đảo Sinh Tồn (huyện đảo Trường Sa, Khánh Hòa) gồm đảo Sinh Tồn, Cô Lin, Len Đao, Gạc Ma. Tuy nhiên, đảo Gạc Ma đã bị Trung Quốc chiếm đóng trái phép từ ngày 14/3/1988.







Toàn cảnh đảo Sinh Tồn nhìn từ ngọn hải đăng. Hiện đảo đã được xây dựng nhiều hạng mục dân sinh như nhà văn hóa, nơi ở của bộ đội, hệ thống năng lượng sạch…
Toàn cảnh đảo Sinh Tồn nhìn từ ngọn hải đăng. Đảo dài chừng 400 mét và rộng 140 mét, hiện được xây dựng nhiều hạng mục dân sinh như nhà văn hóa, trường học, chùa, nhà ở của bộ đội, hệ thống năng lượng sạch…
Canh giữ cột mốc chủ quyền ở Sinh Tồn.
Việt Nam đã đóng quân tại đảo Sinh Tồn từ năm 1974 và nơi đây chỉ cách đảo Gạc Ma bị Trung Quốc chiếm đóng chừng vài hải lý.
Đào chìm Cô Lin nhìn từ xa.
Đào chìm Cô Lin...
đảo chìm Len Đao ngày nay đã được xây dựng kiên cố để bộ đội có nơi sinh hoạt, sẵn sàng chiến đấu bảo vệ chủ quyền.
... đảo chìm Len Đao được xây dựng kiên cố.
Các trạm phong điện và điện mặt trời được lắp đặt trên đảo.
Các trạm phong điện và điện mặt trời được lắp đặt trên đảo Len Đao và Cô Lin.
Bên trong đảo chìm còn có tủ sách phục vụ chiến sĩ trên đảo.
Bên trong đảo chìm còn có tủ sách phục vụ các chiến sĩ.
Khó khăn lớn nhất của lính đảo chìm là rau xanh và nước ngọt. Các chiến sĩ tận dụng từng khoảng diện tích nhỏ để trồng rau.
Khó khăn lớn nhất của lính đảo chìm là rau xanh và nước ngọt. Các chiến sĩ tận dụng từng khoảng diện tích nhỏ để trồng rau.
Lính hải quân ở đảo chìm luôn trong tư thế sẵn sàng chiến đấu, bảo vệ chủ quyền vùng trời, vùng biển của Tổ quốc.
Lính hải quân ở đảo chìm luôn trong tư thế sẵn sàng chiến đấu, bảo vệ chủ quyền vùng trời, vùng biển của Tổ quốc.
25 năm qua, chiếc tàu chiến của Trung Quốc vẫn chôn chân lạnh lùng dưới lòng biển ở đảo Gạc Ma.
25 năm qua, chiếc tàu chiến của Trung Quốc vẫn chôn chân ở khu vực đảo Gạc Ma.

Những bí mật thú vị về Coca-Cola

94% dân số thế giới có thể nhận biết logo đỏ trắng của hãng này. "Coca-Cola" cũng là từ dễ hiểu thứ 2 trong tiếng Anh, sau "OK".

Coca-Cola là tập đoàn đa quốc gia hàng đầu thế giới về sản xuất và kinh doanh đồ uống. Trong đó, sản phẩm nổi tiếng nhất của hãng là Coca-Cola. 12/3 vừa qua cũng là ngày kỷ niệm 119 năm hãng này ra mắt sản phẩm Coca-Cola đóng chai. Để kỷ niệm ngày này, Huffington Post đã tổng hợp 10 bí mật thú vị nhất về Tập đoàn Coca-Cola và loại đồ uống có gas lâu đời này.
1. Doanh thu 48 tỷ USD năm 2012 của Coca-Cola tương đương một nền kinh tế lớn thứ 70 thế giới, bên cạnh Slovenia và Costa Rica.
2. Khoảng 94% dân số thế giới nhận biết được logo đỏ trắng của hãng này, theo Business Insider.
3. John Pemberton, người tìm ra Coca-Cola, ban đầu chỉ muốn chế ra loại đồ uống giúp ông chữa được chứng nghiện morphine sau khi đi lính.
4. Mỗi giây lại có gần 10.450 sản phẩm của Coca-Cola được tiêu thụ trên thế giới.
5. Người Mỹ nạp vào cơ thể khoảng 4,9kg đường mỗi năm từ các sản phẩm của Coca-Cola.
6. Đây cũng là từ dễ hiểu thứ nhì trong tiếng Anh sau "Okay".
7. Trung bình một năm, Coca-Cola dùng 300.000 tấn nhôm để sản xuất vỏ lon, chỉ riêng tại Mỹ.
8. Coca-Cola có khả năng phân giải một lượng lớn thức ăn không được tiêu hóa trong dạ dày, theo một nghiên cứu từ Đại học Athens (Hy Lạp).
9. Coca-Cola có gần 500 nhãn hàng với hơn 3.500 loại đồ uống khác nhau, trong đó có cả soda và đậu nành. Điều đó có nghĩa nếu mỗi ngày uống một sản phẩm của Coca-Cola, bạn sẽ mất tới 9 năm để thưởng thức được hết đồ uống của công ty này.
10. Trung bình cứ 4 ngày, người Mỹ lại tiêu thụ một sản phẩm của Coca-Cola.
Thùy Linh (theo Huffington Post)

Việt Nam ngày một thua thiệt khi buôn bán với Trung Quốc

7 tháng đầu năm nay, cả nước xuất siêu 100 triệu USD nhưng riêng thị trường Trung Quốc lại thâm hụt 8,3 tỷ USD. Tình trạng nhập siêu bắt đầu từ 2001 đang tăng chóng mặt trong 3 năm gần đây.

Câu chuyện thâm hụt thương mại với Trung Quốc bắt đầu được chú ý cách đây hơn 10 năm, khi Việt Nam chuyển từ xuất siêu 130 triệu USD năm 2000 sang nhập siêu gần 200 triệu USD một năm sau đó. Con số này tuy không lớn nhưng liên tục tăng dần trong những năm tiếp theo. Đồng thời, tỷ trọng trong tổng nhập siêu của toàn nền kinh tế ngày một cao.
Nhập siêu từ Trung Quốc so với tổng nhập siêu của Việt Nam giai đoạn. Số liệu: GSO
Nhập siêu từ Trung Quốc so với tổng nhập siêu của Việt Nam giai đoạn 2000 - 2012. Đơn vị: tỷ USD.(*) Tính đến hết tháng 7/2012. Số liệu: GSO
Đến 2009, thâm hụt với Trung Quốc (11,5 tỷ USD) gần như đã chiếm toàn bộ số chênh lệch giữa xuất - nhập khẩu của Việt Nam (12,2 tỷ USD). Liên tiếp trong vòng 2 năm sau đó, mức chênh lệch này nhanh chóng vượt xa tổng nhập siêu. Sau 7 tháng đầu năm 2012, Việt Nam nhập ròng từ Trung Quốc 8,3 tỷ USD (xuất 7 tỷ USD, nhập khẩu 15,3 tỷ), trong khi cán cân tổng thể vẫn xuất siêu khoảng 100 triệu USD. Với con số này, Trung Quốc là thị trường nhập khẩu lớn nhất của Việt Nam nhưng chỉ đứng thứ 5 về xuất khẩu.
Xuất nhập khẩu của Việt Nam vào các thị trường lớn sau 7 tháng đầu năm 2012. Số liệu: GSO
Xuất - nhập khẩu của Việt Nam với các thị trường lớn sau 7 tháng 2012. Số liệu: GSO
Trong Báo cáo thường niên Kinh tế Việt Nam 2011, Viện Nghiên cứu Kinh tế & Chính sách (VEPR) - Đại học Quốc gia Hà Nội, đã cảnh báo về thực trạng này. Số liệu VEPR thống kê cho thấy trong khoảng 10 năm gần đây, Việt Nam phần lớn xuất sang Trung Quốc các mặt hàng như nhiên - nguyên liệu (than, cao su, gỗ), thực phẩm (rau - củ - quả, thủy sản)… Trong khi đó, lại nhập khẩu chủ yếu máy móc, sắt thép, hóa chất (phân bón), sợi - nguyên liệu may…
“Soi” lại những mặt hàng này trong 6 tháng đầu năm, số liệu của Tổng cục Thống kê cho thấy tổng kim ngạch xuất khẩu ở hầu hết các nhóm đều giảm khoảng 5 - 30% về cả lượng lẫn giá trị hàng hóa. Riêng xuất khẩu than giảm 32% thì bán cho Trung Quốc (chiếm gần 80% tổng xuất khẩu) giảm 16%. Nhập khẩu nói chung cũng có dấu hiệu chậm lại, các mặt hàng đều giảm 4 - 14%, nhưng lượng nhập từ thị trường Trung Quốc vẫn tăng đều.
Cụ thể, lượng nhập sắt thép giảm 4% nhưng từ thị trường Trung Quốc vẫn đạt hơn một triệu tấn, tăng 22%. Giá trị nhập sợi - nguyên liệu may từ thị trường này thậm chí còn tương đương hơn 2 tỷ USD, tăng nhẹ (0,7%) trong khi giá trị nhập tổng thể giảm hơn 14% so với cùng kỳ. Việt Nam cũng nhập khoảng 2,4 tỷ USD máy móc từ Trung Quốc trong 7 tháng. Con số này tuy có giảm (2%) nhưng vẫn thấp hơn nhiều so với mức giảm chung (11,3%) của toàn ngành.
Tìm hiểu về nguyên nhân nhập siêu từ Trung Quốc, các nhà nghiên cứu đều cho rằng, có nhiều lý do, trong đó năng lực sản xuất hàng tiêu dùng chưa đáp ứng đủ nhu cầu, sức cạnh tranh yếu, hiệu quả đầu tư - năng suất lao động yếu, dẫn đến khó khăn trong xuất khẩu để củng cố cán cân thương mại… Quan trọng hơn, do cơ cấu kinh tế chậm chuyển đổi, thiếu công nghiệp phụ trợ, nặng về gia công hiện phải nhập tới 80 - 90% nguyên phụ liệu cho sản xuất, mà chủ yếu là từ Trung Quốc - nơi nguồn cung các mặt hàng này vừa rẻ, lại vừa dồi dào.
Theo chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan, những nguyên nhân trên đã dẫn tới tình trạng xuất khẩu của Việt Nam tuy có tăng, nhưng rất nhiều trong số đó là xuất khẩu “hộ” Trung Quốc. Còn việc nhập siêu từ Trung Quốc, bà Chi Lan chỉ ra nguyên nhân đáng lo ngại hơn.
Phân tích của bà Phạm Chi Lan cũng như báo cáo của VEPR cho thấy, lý do quan trọng khiến nhập siêu gia tăng trong những năm gần đây là sự thắng thế liên tục của các nhà thầu Trung Quốc trong các dự án tại Việt Nam. Riêng giai đoạn 2007 - 2010, các doanh nghiệp nước này đã thắng thầu trong ít nhất 5 dự án có tổng vốn đầu tư từ 450 triệu USD trở lên (trong đó có 2 trường hợp vốn trên 2 tỷ USD). Các dự án “ưa thích” của nhà thầu Trung Quốc chủ yếu nằm trong các lĩnh vực công nghiệp thượng nguồn như điện (90% các công trình điện ở Việt Nam hiện nay), khai khoáng, dầu khí, luyện kim, hóa chất, công trình giao thông…
Các dự án lớn Trung Quốc thắng thầu giai đoạn 2007 - 2010
Nhà thầu Trung Quốc ngày càng chiếm ưu thế tại các dự án tại Việt Nam. Ảnh: Xinhua
Nhà thầu Trung Quốc ngày càng chiếm ưu thế tại các dự án tại Việt Nam. Ảnh: Xinhua
Đây chính là lý do khiến máy móc - thiết bị kỹ thuật luôn là một trong những mặt hàng được nhập khẩu nhiều nhất từ Trung Quốc vào Việt Nam. “Điều này bất lợi hơn nhiều so với nhập nguyên phụ liệu, bởi đa phần máy móc nhập từ Trung Quốc không phải công nghệ nguồn, hoặc đã lạc hậu. Các dự án xây dựng cũng hay chậm tiến độ, có hoàn thành thì chất lượng cũng không cao. Rồi chính người Việt lại phải sử dụng những sản phẩm, công nghệ đó”, bà Lan phân tích.
Một vấn đề khác cũng được chuyên gia này chỉ ra là phần lớn dự án quan trọng ở lĩnh vực điện, giao thông mà phía Trung Quốc đang làm nhà thầu đang sử dụng vốn vay ODA. “Như vậy, vốn giá rẻ mà Việt Nam đi vay, các nước khác giúp đỡ, lại được sử dụng để mua máy móc Trung Quốc, làm lợi cho họ. Điều này sẽ khiến các nhà tài trợ không thực sự hài lòng”, chuyên gia này nhận định.
Trên thực tế, cơ quan quản lý từ lâu cũng đã nhận rõ sự bất hợp lý trong cán cân thương mại 2 nước. Ngay từ năm 2007, Bộ Công Thương đã vạch ra đề án Phát triển xuất nhập khẩu với Trung Quốc giai đoạn 2007 - 2015 với mục tiêu hạn chế dần thâm hụt thương mại. Phát biểu với báo chí gần đây, Nguyễn Thành Biên cũng cho biết giải pháp quan trọng nhất để đạt mục tiêu này là tăng nhanh xuất khẩu, trong đó trước mắt tập trung vào các mặt hàng có lợi thế tự nhiên và lao động. Kế đó (2016-2020), sẽ đẩy mạnh các mặt hàng công nghệ mới có giá trị gia tăng, hàm lượng công nghiệp và chất xám cao…
Tuy vậy, theo đánh giá của các chuyên gia kinh tế, trong giai đoạn từ 2007 đến nay, Việt Nam vẫn chưa thành công trong việc hạn chế nhập siêu từ Trung Quốc, thậm chí ngày một thiệt thòi hơn trong giao thương. Nguyên nhân chủ yếu là do các biện pháp được đề ra nhưng chưa được thực hiện một cách nhất quán và kiên định.
Một thực tế khác là các doanh nghiệp Trung Quốc hầu như chỉ thực hiện chiến lược “nhà thầu” chứ rất ngại mở rộng đầu tư vào Việt Nam. Năm 2011, vốn FDI từ Trung Quốc chỉ đạt hơn 800 triệu USD, đứng thứ 14 trong số các quốc gia, vùng lãnh thổ đầu tư (số vốn trong 4 năm trước đó cũng chỉ dao động trong khoảng 360 - 570 triệu USD). Số vốn này khó có thể khỏa lấp thâm hụt thương mại nhiều tỷ USD của Việt Nam trên cán cân thanh toán tổng thể với Trung Quốc.
Theo kết quả nghiên cứu tỷ giá hối đoái giai đoạn 2000 - 2011 và các nhân tố ảnh hưởng đến xuất khẩu của Ủy ban Kinh tế của Quốc hội và Chương trình Phát triển Liên hợp quốc (UNDP), trong giai đoạn 2000 - 2010, tỷ giá thực của đồng Việt Nam đã đắt lên so với đôla Mỹ 25,9%, trong khi con số tương tự của nhân dân tệ với USD là 19,78%. Ngay cả khi tính thêm lần phá giá 9,3% vào năm 2011 thì đồng Việt Nam vẫn đắt lên tương đối so với nhân dân tệ. Điều này khiến cho hàng xuất khẩu của Việt Nam gặp thêm bất lợi trước các sản phẩm cùng loại của Trung Quốc.

Những điểm mới trong Bộ luật Lao động (sửa đổi)

Bộ luật Lao động (sửa đổi) đã được Quốc hội khoá XIII thông qua ngày 18/6/2012, bắt đầu có hiệu lực từ 1/5/2013. Bộ luật lao động (sửa đổi) gồm 17 chương, 242 điều, tăng 19 điều so với Bộ luật Lao động hiện hành (223 điều). Bộ luật Lao động (sửa đổi) đã đưa ra những quy định cụ thể hơn và bảo vệ lợi ích cho người lao động (NLĐ) nhiều hơn. Careerlink xin giới thiệu 5 nội dung mới đáng chú ý mà NLĐ và Doanh nghiệp cần biết trong Bộ luật mới này.

Đối với hợp đồng lao động
Chương III (điều 26, 27, 31) quy định: tiền lương trong thời gian thử việc của NLĐ “ít nhất phải bằng 85%” so với mức 70% của quy định theo Bộ luật đang hiện hành. Một điểm mới được bổ sung trong chương này đó là: Cho thuê lao động, đây là lần đầu tiên quy định này chính thức được công nhận tại Việt nam.

Với quy định cho thuê lao động sẽ giải quyết được tình trạng vừa thừa, vừa thiếu giữa các doanh nghiệp. Đồng thời giải quyết được vấn đề thất nghiệp cho những người trong độ tuổi lao động.

Về chính sách tiền lương
Chương VI, điều 93 và 94 Bộ luật Lao động đang hiện hành quy định: Người sử dụng lao động (NSDLĐ) phải đăng ký thang, bảng lương với cơ quan quản lý Nhà nước và phải được duyệt trước khi thực hiện trong doanh nghiệp. Trong Bộ luật (sửa đổi) áp dụng ngày 1/5/2013 đã bãi bỏ hình thức phải đăng ký thang, bảng lương thay bằng việc NSDLĐ chỉ cần sao gửi thang, bảng lương cho cơ quan, tổ chức có liên quan để quản lý, theo dõi. Điều này có nghĩa Nhà nước không can thiệp trực tiếp vào mức tiền lương của người lao động, chỉ quy định mức tiền lương thấp nhất mà NSDLĐ phải trả cho NLĐ …. Thang lương, bản lương, định mức lao động do các doanh nghiệp tự xây dựng và ban hành theo nguyên tắc quy định của Chính phủ. Trường hợp thay đổi hình thức trả lương phải thông báo cho NLĐ biết trước 10 ngày.

Về tiền lương, làm thêm giờ, làm việc vào ban đêm, ngoài những quy định đang hiện hành theo khoản 1 và 2, điều 97, NLĐ còn được trả thêm 20% tiền lương tính theo đơn giá tiền lương hoặc tiền lương theo công việc làm vào ban ngày.” (Khoản 3 Điều 97).

Những sửa đổi của chương này dựa trên nguyên tắc: Nhà nước không can thiệp trực tiếp vào mức tiền lương của NLĐ, chỉ quy định mức lương thấp nhất mà NSDLĐ phải trả cho NLĐ. Đồng thời quy định rõ các mức lương tối thiểu được xác định theo ngày, tháng, giờ và được xác lập theo vùng ngành như: Điều kiện sống tối thiểu của người lao động và gia đình họ, điều kiện kinh tế - xã hội và mức tiền lương trên thị trường lao động.

Một điểm mới trong chương VI là việc quy định về Hội đồng tiền lương Quốc gia: “Hội đồng tiền lương quốc gia là cơ quan tư vấn cho Chính phủ, bao gồm các thành viên là đại diện của Bộ Lao động – thương binh và Xã hội, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam và tổ chức đại diện người sử dụng lao động ở Trung Ương. Chính phủ được giao quy định cụ thể chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức của hội đồng này” - (khoản 1, điều 92).

Thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi
Ngoài những quy định về giờ làm việc và nghỉ ngơi cho NLĐ như: Bảo đảm số giờ làm thêm của người lao động không quá 50% số giờ làm việc chính thức trong 01 ngày, trong trường hợp áp dụng quy định làm việc theo tuần thì tổng số giờ làm việc bình thường và số giờ làm thêm không quá 12 giờ trong 01 ngày; không quá 30 giờ trong 01 tháng và tổng số không quá 200 giờ trong 01 năm, trừ một số trường hợp đặc biệt do Chính phủ quy định thì được làm thêm giờ không quá 300 giờ trong 01 năm. Chương VII, Bộ luật còn quy định NLĐ được nghỉ 10 ngày/năm hưởng nguyên lương, trong đó tết âm lịch được nghỉ 5 ngày, tăng một ngày so với luật đang hiện hành (nghỉ 9 ngày/năm hưởng lương nguyên, trong đó tết âm lịch được nghỉ 4 ngày).

Ngoài ra, trong chương này bổ sung thêm quy định để NLĐ được nghỉ trong một số trường hợp cụ thể như bố, mẹ hoặc anh, chị em ruột chết: “Người lao động được nghỉ không hưởng lương 01 ngày và phải thông báo với người sử dụng lao động khi ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại hoặc anh, chị, em ruột chết; bố hoặc mẹ kết hôn; anh, chị, em ruột kết hôn (khoản 2 Điều 116). Riêng đối với lao động là người nước ngoài được nghỉ thêm một ngày tết cổ truyền và ngày quốc khánh của nước họ.

Về thời gian nghỉ thai sản dành cho lao động nữ
Theo Chương X: Những quy định riêng đối với lao động nữ: Lao động nữ được nghỉ trước và sau khi sinh con 6 tháng, thay vì 4 tháng như hiện nay. Trường hợp LĐ nữ sinh đôi trở lên thì tính từ con thứ 2 trở đi, cứ mỗi con, người mẹ được nghỉ thêm 1 tháng. Thời gian nghỉ trước khi sinh tối đa không quá 2 tháng. Trong đó, nếu đến ngày 1/5/2013 mà lao động nữ đang trong thời gian nghỉ thai sản sẽ được hưởng chế độ theo BLLĐ mới.

Mục đích của quy định này là: đưa ra các quy định nhằm thúc đẩy bình đẳng giới trong tuyển dụng, sử dụng, đào tạo, thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi, tiền lương và các chế độ khác; pháp điển hoá Nghị định (là việc xây dựng, soạn thảo một văn bản pháp luật mới trên cơ sở hệ rà soát, hệ thống hoá, tập hợp các quy định ở nhiều văn bản quy phạm pháp luật hiện hành vào văn bản đó với sự sửa đổi, bổ sung, điều chỉnh để phù hợp với thực tiễn) 23-CP ngày 18/4/1996 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật Lao động về những quy định riêng đối với lao động nữ.

Độ tuổi nghỉ hưu đối với nhóm lao động cụ thể
Về tuổi nghỉ hưu, Bộ luật vẫn giữ nguyên quy định độ tuổi nghỉ hưu của lao động nam là 60 tuổi, nữ 55 tuổi. Trong chương XII, khoản 1, điều 187, Bộ luật cho phép Chính phủ quy định cụ thể tuổi nghỉ hưu đối với các nhóm lao động bị suy giảm khả năng lao động, làm các công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm; làm việc ở vùng cao, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo; nhóm lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao, nhóm lao động làm công tác quản lý và một số trường hợp đặc biệt khác, làm cơ sở để trong tương lai điều chỉnh tổng thể tuổi nghỉ hưu. Đối với NLĐ có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao, NLĐ làm công tác quản lý và một số trường hợp đặc biệt khác có thể nghỉ hưu ở tuổi cao hơn nhưng không quá 05 năm so với quy định tại.

Ngoài một số quy định đã được sửa đổi, bộ luật lao động mới có thêm một số điều mới như: Các trường hợp hợp đồng lao động vô hiệu; đối thoại doanh nghiệp; thỏa ước lao động tập thể ngành. Bên cạnh đó, luật còn bổ sung thêm những quy định mới nhằm bảo vệ quyền lợi cho NLĐ giúp việc nhà, người lao động không trọn thời gian. Các chính sách về BHXH, BHYT, BHTN… cũng được chỉnh sửa cụ thể hơn, nhằm bảo vệ quyền lợi cho NLĐ trong các trường hợp rủi ro như: Ốm đau, tai nạn, mất việc…

Năm Quý Tỵ là cơ hội làm giàu cho người tuổi Mão

10% giới siêu giàu trên thế giới sinh năm Mão, chiếm tỷ lệ cao nhất trong 12 con giáp. Theo hãng nghiên cứu Wealth-X, nguyên nhân có thể là họ có nhiều cá tính phù hợp để thành công.

Năm Quý Tỵ, bắt đầu từ ngày 10/2 tới, có thể sẽ là năm rất thịnh vượng với những người sinh năm Mão, theo hãng nghiên cứu tài sản Wealth-X (Mỹ). Theo công ty này, người tuổi Mão thống trị danh sách các cá nhân có tài sản từ 30 triệu USD trở lên.
Mykolas Rambus, CEO của Wealth-X cho biết khoảng 10% giới siêu giàu trên thế giới sinh năm Mão. Trong khi đó, chỉ có 8% là tuổi rắn. Rambus nhận xét: "Hãy nhìn vào lịch sử, tất cả những người sinh năm này đều là các cá nhân thành đạt nhất. Điều đó chứng tỏ họ có những cá tính phù hợp để thành công".

Mão là một trong 12 con giáp theo quan niệm của người phương Đông. Họ cũng là những người chi tiêu mạnh tay nhất khi đóng góp tới 23% doanh thu hàng xa xỉ toàn cầu. Trong khi đó, số người tuổi rắn chỉ mua khoảng 4%.
Theo báo cáo của Wealth-X, tính chung trên toàn châu Á, người tuổi Mão chiếm đa số trong danh sách cá nhân có tài sản từ 30 triệu USD trở lên. Các nước có tỷ lệ này lớn nhất là Hàn Quốc (26%) và Trung Quốc (14%).
Dù cho rằng sinh năm Mão là một trong những đặc điểm nhận biết người siêu giàu trên thế giới, Rambus cũng nhận định việc này còn tùy thuộc vào từng quốc gia. Ông nói: "Có điều ngạc nhiên là với một số nước, như Thái Lan, tỷ lệ người siêu giàu cao nhất lại thuộc về năm rồng với 27%. Cái này còn tùy vào nơi bạn đang sống nữa".
Các con giáp khác có tỷ lệ người siêu giàu chiếm tỷ lệ lớn châu Á là Tý (10% ở Ấn Độ) và Ngọ (chiếm 15% ở Nhật Bản), theo báo cáo của Wealth-X. Rambus cho biết người tuổi Ngọ là những nhà đầu tư và quản lý quỹ bẩm sinh. Ông cho biết: "Warren Buffet là một ví dụ điển hình. Ông ấy là người tiêu biểu cho những nhà đầu tư sinh vào năm Ngọ. Nếu nhìn vào danh sách các nhà đầu tư xuất sắc, bạn sẽ thấy những người tuổi này là đông nhất".
Chiếm tỷ lệ thấp nhất trong giới siêu giàu toàn cầu thuộc về những người tuổi Tuất, với chỉ 7,8%.
Thùy Linh (theo CNBC)

Bí quyết thành công của người giàu thế giới

Luôn tuyển người giỏi hơn mình, đừng bao giờ tiếc nuối và không đổ lỗi khi gặp thất bại đã giúp tỷ phú tập đoàn Virgin hay CEO hãng bất động sản Zillow thành công trong cuộc sống.

1. T. Boone Pickens

Chủ tịch Hãng quản lý vốn BP
"Chẳng ích gì trong việc đổ lỗi cho người khác nếu bạn gặp thất bại".

2. Martha Stewart

Nhà sáng lập hãng Martha Stewart Living Omnimedia
"Nếu quan tâm tới thứ gì, tôi có thể làm bất cứ điều gì mình chọn".

3. Jim Kim

Chủ tịch Ngân hàng Thế giới (WB)
"Nếu muốn trở thành một nhà lãnh đạo hiệu quả, bạn phải lắng nghe và khiêm tốn tiếp nhận những phản hồi từ đội ngũ của mình".

4. Richard Branson

Tỷ phú sáng lập Tập đoàn Virgin
"Không bao giờ nuối tiếc".

5. Sallie Krawcheck

Cựu chủ tịch của Merrill Lynch, US Trust và Smith Barney
"Hãy mặc kệ những đám đông đang nhỏ to và tập trung vào chuyện của mình".

6. Craig Newmark

Người sáng lập trang rao vặt Craigslist
"Đừng bao giờ chỉnh lý người khác nếu điều đó không có mấy ý nghĩa".

7. Nilofer Merchant

Người sáng lập Hãng tư vấn Rubicon
"Nuôi những con đại bàng và bỏ đói những con gà tây": Hãy dồn sức vào những việc quan trọng và bỏ qua những chuyện lặt vặt.

8. Spencer Rascoff

CEO Hãng thông tin địa ốc Zillow
"Luôn tuyển dụng những người giỏi hơn mình".

9. Brad Smith

Chủ tịch kiêm CEO của Intuit
"Chọn lựa một công việc đúng đắn không phải là điều bất thình lình bạn nhận ra hay mong muốn từ bé. Đó là quá trình thử nghiệm, mắc lỗi và là một hành trình khám phá".

10. Peter Cashmore

CEO hãng công nghệ Mashable
"Hãy lắng nghe".
(theo VnEconomy)

Những hãng bán lẻ tệ nhất nước Mỹ

Walmart có độ thỏa mãn khách hàng thấp nhất nước Mỹ trong khảo sát của MSN Money, theo sau là Netflix, Safeway và CVS Caremark.

1. Walmart

Điểm thỏa mãn khách hàng: 71
Doanh thu 12 tháng: 469,16 tỷ USD
Lĩnh vực: siêu thị, hàng giảm giá
Walmart đã bị đánh giá thấp nhất về dịch vụ trong các hãng bán lẻ suốt từ năm 2005. Hoạt động thương mại điện tử của hãng này cũng chẳng khá khẩm hơn. Theo chỉ số E-Retail Satisfaction Index của ForeSee, Walmart chỉ được 78/100 năm 2012. Trong khi đó, đối thủ Amazon.com dẫn đầu với 88 điểm.

2. Netflix

Điểm thỏa mãn khách hàng: 75
Doanh thu 12 tháng: 3,61 tỷ USD
Lĩnh vực: Thương mại điện tử
Trong khi phần lớn các công ty thương mại điện tử có điểm số khá cao, hãng cho thuê đĩa Netflix lại là ngoại lệ. Netflix đã làm phiền lòng khách hàng cuối năm 2011 khi vừa tăng giá, vừa tuyên bố kế hoạch tách hai mảng thuê DVD và xem phim trực tuyến.

3. Safeway

Điểm thỏa mãn khách hàng: 75
Doanh thu 12 tháng: 44,21 tỷ USD
Lĩnh vực: Siêu thị
Safeway là một trong những chuỗi siêu thị lớn nhất nước Mỹ với hơn 1.600 cửa hàng, tính đến cuối năm ngoái. Trong 10 năm qua, điểm của hãng trong khảo sát này đều rất thấp. Một trong những phàn nàn phổ biến nhất của người tiêu dùng là giá cả thiếu chính xác. Safeway thậm chí còn bị kiện hai lần vì việc này.

4. CVS Caremark

Điểm thỏa mãn khách hàng: 75
Doanh thu 12 tháng: 123,13 tỷ USD
Lĩnh vực: Sản phẩm chăm sóc sức khỏe và cá nhân
CVS Caremark là một trong những doanh nghiệp lớn nhất ngành bán lẻ Mỹ và xếp thứ 18 danh sách Fortune 500 (500 công ty lớn nhất Mỹ) năm 2012. Tuy nhiên, ba năm gần đây, độ thỏa mãn của khách hàng với họ luôn xếp sau các đối thủ như Rite Aid và Walgreens. Chỉ có các nhà đầu tư là hài lòng khi cổ phiếu của hãng tăng tới 15,95% năm ngoái.

5. Sears

Điểm thỏa mãn khách hàng: 75
Doanh thu 12 tháng: 39,85 tỷ USD
Lĩnh vực: hàng giảm giá và trung tâm thương mại
Sears Holdings sở hữu hai thương hiệu bán lẻ là Sears và Kmart. Từ tháng 2/2013, hãng này đã liên tiếp nhận thư phàn nàn về phiếu mua hàng của Sears, như quá nhiều điều kiện, ưu đãi hạn chế và dịch vụ vận chuyển kém. Trong báo cáo Độ thỏa mãn mua hàng online với các hãng bán lẻ của J.D. Power năm 2012, cả hai website của Sears và Kmart đều bị liệt vào hàng tệ nhất.

6. Supervalu

Điểm thỏa mãn khách hàng: 76
Doanh thu 12 tháng: 34,77 tỷ USD
Lĩnh vực: siêu thị
Supervalu điều hành các chuỗi hàng tạp hóa giá rẻ như Save-A-Lot, Albertsons, Jewel-Osco và Shop ‘N Save. Ngoài việc bị khách hàng bất mãn, công ty này cũng đang gặp phải khó khăn tài chính. Sau nhiều năm cổ phiếu mất giá, Supervalu đã bắt đầu cắt giảm hoạt động và lên kế hoạch bán 5 chuỗi siêu thị.

7. Gap

Điểm thỏa mãn khách hàng: 76
Doanh thu 12 tháng: 15,65 tỷ USD
Lĩnh vực: bán lẻ chuyên dùng
Gap sở hữu nhiều thương hiệu bán lẻ tên tuổi như Gap, Banana Republic và Old Navy. Trong 12 tháng gần đây, hãng này hoạt động rất thành công với lợi nhuận tăng gần 300 triệu USD so với năm ngoái. Tuy nhiên, người tiêu dùng lại chẳng hào hứng với Gap như các nhà đầu tư. Trong các hãng bán lẻ chuyên dùng, Gap đứng chót về dịch vụ khách hàng. Đây cũng là năm thứ 5 liên tiếp hãng này thụt lùi trong bảng xếp hạng.

8. TJX Companies

Điểm thỏa mãn khách hàng: 76
Doanh thu 12 tháng: 25,88 tỷ USD
Lĩnh vực: Bán lẻ chuyên dùng
TJX Companies sở hữu các chuỗi cửa hàng bán lẻ giảm giá như T.J. Maxx, Marshalls và HomeGoods. Tuy nhiên, điểm của hãng này trong khảo sát độ thỏa mãn tiêu dùng của MSN Money/JZ Analytics chưa hề được cải thiện trong 5 năm gần đây. Chỉ 18% người được hỏi đánh giá dịch vụ của họ ở mức “xuất sắc”. Tuy vậy, doanh thu của TJX Companies vẫn tăng 12% và lợi nhuận cũng thêm 400 triệu USD năm 2012.

9. Walgreen

Điểm thỏa mãn khách hàng: 76
Doanh thu 12 tháng: 70,79 tỷ USD
Lĩnh vực: Sản phẩm chăm sóc sức khỏe và cá nhân
Walgreen điều hành chuỗi hiệu thuốc Walgreens và cũng là một trong những công ty lớn nhất nước Mỹ. Tháng 12/2012, hãng này đã có trên 8.500 cửa hiệu. Tuy nhiên, việc này cũng chẳng giúp họ tăng thiện cảm với người tiêu dùng. Doanh thu tại các cửa hàng mới giảm 2% trong quý gần nhất, trong khi doanh thu toàn công ty mất 4,6% và lợi nhuận giảm 25,5%.
Thùy Linh (theo 24/7 WallSt)

Thứ Năm, 7 tháng 3, 2013

Hàng Trung Quốc phải giấu nơi sản xuất

Bị người tiêu dùng nhiều nước tẩy chay và đề phòng vì chất lượng kém, hàng hóa Trung Quốc vẫn tìm mọi chiêu trò để "thay tên đổi họ".





Hàng Trung Quốc đổi chiêu, thay dòng chữ made in China thành made in PRC (Ảnh chụp từ Facebook) 

Đã xuất hiện những sản phẩm Trung Quốc cố tình thay đổi dòng chữ “made in China” thành “made in PRC” nhằm đánh lừa người tiêu dùng hay bán hàng trên mạng với giá rẻ nhưng thực chất không rẻ chút nào.

Hàng hóa từ “nước mới” - made in PRC
Gần đây cộng đồng mạng truyền nhau thông tin về việc một số hàng hóa Trung Quốc đã thay dòng chữ “made in China” thành “made in PRC” (viết tắt của made in People’s Republic of China) để qua mặt người tiêu dùng. Thông điệp và hình ảnh về cách "lách" này đã được chia sẻ và bình luận mạnh mẽ trên trang mạng xã hội facebook.

Tuy vậy, đây không phải là thông tin hoàn toàn mới, dòng chữ này đã xuất hiện trên các bao bì cách đây hơn một năm, đã có nhiều người lầm tưởng là hàng của các nước Cộng hòa Creczch, Chile... Bạn Ngọc Diễm – sinh viên trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật TPHCM chia sẻ: “Một lần mình mua bình giữ nhiệt, thấy họ ghi dòng chữ made in PRC, tưởng của Cộng hòa Séc hay Rumani gì đó nên mua, mãi sau nghe mọi người nói mới biết hàng của Trung Quốc”.

 Chia sẻ trên diễn đàn linkhay, một bạn ký tên là TKM nói: “Viết PRC là để tránh chữ China, nó chả có gì sai cả, nó chỉ thể hiện một thực tế rằng hàng China đồng nghĩa với chất lượng thấp nên phải tìm cách qua mắt người tiêu dùng về xuất xứ. Việc che giấu nguồn gốc xuất xứ mà không đổi chất lượng thì đúng là cố gắng cào cấu đánh lừa người tiêu dùng nước ngoài thêm một thời gian nữa”.

Tràn lan hàng Trung Quốc bán trực tuyến
Không chỉ thay đổi cách ghi nguồn gốc xuất xứ, hàng Trung Quốc còn tìm được một phương thức sống mới là các trang bán hàng trực tuyến. Đánh vào tâm lý ham khuyến mãi ham rẻ, các trang bán hàng qua mạng tha hồ đưa những thông tin giảm giá 40%, 50% khiến cho người tiêu dùng khó cầm lòng. Tuy nhiên, đọc kỹ thông tin về sản phẩm thì hầu hết đây là những mặt hàng có ghi nguồn gốc từ Quảng Châu, Thượng Hải, Thâm Quyến… Những mặt hàng này thường là hàng gia dụng, thời trang, mỹ phẩm... Thậm chí còn có cả các sản phẩm công nghệ xuất xứ Trung Quốc quảng cáo là kết nối được với cả 3 mạng Mobifone, Vinaphone, Viettel, bán với giá 399.000 đồng.

Các trang mạng đẩy giá các sản phẩm lên cao ngất ngưởng rồi hạ xuống, đánh tiếng là đang giảm giả để người tiêu dùng có cảm giác mua được hàng giá rẻ. Chưa cần so về chất lượng, chỉ so về giá cả với các sản phẩm tương tự có nguồn gốc xuất xứ từ những nước như Singapore, Malaysia, Thái Lan… được bán tại các siêu thị thì các măt hàng Trung Quốc đang rao nhan nhản trên mạng kia chỉ rẻ hơn vài ngàn đồng.

Thứ Hai, 4 tháng 3, 2013

DANH MỤC NGÀNH NGHỀ KINH DOANH CÓ ĐIỀU KIỆN

Doanh nghiệp kinh doanh một số ngành nghề sau cần đáp ứng các điều kiện khi đăng ký kinh doanh.
DANH MỤC NGÀNH NGHỀ kinh doanh YÊU CẦU CÓ CHỨNG CHỈ HÀNH NGHỀ

1.         kinh doanh dịch vụ pháp lý;
2.         kinh doanh dịch vụ khám, chữa bệnh và kinh doanh dược phẩm;
3.         Kinh doanh dịch vụ thú y và kinh doanh thuốc thú y;
4.         Kinh doanh dịch vụ thiết kế quy họach xây dựng, khảo sát xây dựng, thiết kế xây dựng công trình, giám sát thi công xây dựng;
5.         Kinh doanh dịch vụ kiểm toán;
6.         Sản xuất, gia công, sang chai, đóng gói, mua bán thuốc bảo vệ thực vật;
7.         Kinh doanh dịch vụ xông hơi khử trùng;
8.         Kinh doanh dịch vụ thiết kế phương tiện vận tải;
9.         Mua bán di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia;
10.     Kinh doanh dịch vụ kế toán;
11.     Dịch vụ môi giới bất động sản;
-           Dịch vụ định giá bất động sản;
-           Dịch vụ sàn giao dịch bất động sản.
DANH MỤC NGÀNH NGHỀ KINH DOANH YÊU CẦU VỐN PHÁP ĐỊNH
1.         Tổ chức tín dụng (Nghị định 141/2006/NĐ-CP ngày 22/11/2006)
-           Ngân hàng thương mại cổ phần: 1000 tỷ đồng (đến hết ngày 30/12/2010 là 3.000 tỷ đồng)
-           Ngân hàng liên doanh: 1000 tỷ đồng (đến hết ngày 30/12/2010 là 3.000 tỷ đồng);
-           Ngân hàng 100% vốn nước ngoài: 1000 tỷ đồng (đến hết ngày 30/12/2010 là 3.000 tỷ đồng);
-           Chi nhánh ngân hàng nước ngoài: 15 triệu USD.
2.         Quỹ tín dụng nhân dân (Nghị định 141/2006/NĐ-CP ngày 22/11/2006)
-           Quỹ tín dụng nhân dân trung ương: 1.000 tỷ đồng;
-           Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở: 0.1 tỷ đồng.
3.         Tổ chức tín dụng phi ngân hàng (Nghị định 141/2006/NĐ-CP ngày 22/11/2006)
-           Công ty tài chính: 300 tỷ đồng (đến hết ngày 30/12/2010 là 500 tỷ đồng);
-           Công ty cho thuê tài chính: 100 tỷ đồng (đến hết ngày 30/12/2010 là 150 tỷ đồng).
4. Kinh doanh bất động sản: 6 tỷ đồng (Điều 3 NĐ 153/2007/NĐ-CP ngày 15/10/2007)
5. Dịch vụ đòi nợ: 2 tỷ đồng (Điều 13 NĐ 104/2007/NĐ-CP ngày 14/6/2007)
6. Dịch vụ bảo vệ: 2 tỷ đồng (không được kinh doanh các ngành, nghề và dịch vụ khác ngoài Dịch vụ bảo vệ) (NĐ 52/2008/NĐ-CP ngày 22/4/2008)
7. Dịch vụ đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài: 5 tỷ đồng (Điều 3 NĐ 126/2007/NĐ-CP ngày 1/8/2007)
8. Sản xuất phim: Doanh nghiệp phải có GCN đủ điều kiện kinh doanh do Cục Điện ảnh cấp trước khi ĐKKD (Điều 14 Luật điện ảnh)
9.         Kinh doanh cảng hàng không: (Khoản 1 Điều 22 NĐ 83/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007)
-           Kinh doanh tại cảng hàng không quốc tế: 100 tỷ đồng
-           Kinh doanh tại cảng hàng không nội địa: 30 tỷ đồng
10.     Cung cấp dịch vụ hàng không mà không phải là doanh nghiệp cảng hàng không: (Khoản 2 Điều 22 NĐ 83/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007)
-           Kinh doanh tại cảng hàng không quốc tế: 30 tỷ đồng
-           Kinh doanh tại cảng hàng không nội địa: 10 tỷ đồng
11.     Kinh doanh vận chuyển hàng không: (Khoản 1 Điều 8 NĐ 76/2007/NĐ-CP ngày 9/5/2007)
11.1 Vận chuyển hàng không quốc tế:
-           Khai thác từ 1 đến 10 tàu bay: 500 tỷ đồng
-           Khai thác từ 11 đến 30 tàu bay: 800 tỷ đồng
-           Khai thác trên 30 tàu bay: 1000 tỷ đồng
11.2 Vận chuyển hàng không nội địa:
-           Khai thác từ 1 đến 10 tàu bay: 200 tỷ đồng
-           Khai thác từ 11 đến 30 tàu bay: 400 tỷ đồng
-           Khai thác trên 30 tàu bay: 500 tỷ đồng
12. Kinh doanh hàng không chung: 50 tỷ đồng (Khoản 2 Điều 8 NĐ 76/2007/NĐ-CP ngày 9/5/2007)
13.     Kinh doanh lữ hành: Kinh doanh lữ hành quốc tế: 250 triệu đồng (Thông tư 04/2001/TT-TCDL ngày 24/12/2001 của Tổng cục Du lịch)
MỘT SỐ NGÀNH NGHỀ KINH DOANH CÓ ĐIỀU KIỆN KHÁC
1.         Kinh doanh Karaoke;
2.         Phát hành, xuất bản ấn phẩm;
3.         Quảng cáo;
4.         Kinh doanh trò chơi điện tử;
5.         Kinh doanh vũ trường;
DANH MỤC NGÀNH, NGHỀ CẤM KINH DOANH
1.         Kinh doanh vũ khí quân dụng, trang thiết bị, kỹ thuật, khí tài, phương tiện chuyên dùng quân sự, công an; quân trang (bao gồm cả phù hiệu, cấp hiệu, quân hiệu của quân đội, công an), quân dụng cho lực lượng vũ trang; linh kiện, bộ phận, phụ tùng, vật tư và trang thiết bị đặc chủng, công nghệ chuyên dùng chế tạo chúng;
2.         Kinh doanh chất ma túy các loại;
3.         Kinh doanh hóa chất bảng 1 (theo Công ước quốc tế);
4.         Kinh doanh các sản phẩm văn hóa phản động, đồi trụy, mê tín dị đoan hoặc có hại tới giáo dục thẩm mỹ, nhân cách;
5.         Kinh doanh các loại pháo;
6.         Kinh doanh các loại đồ chơi, trò chơi nguy hiểm, đồ chơi, trò chơi có hại tới giáo dục nhân cách và sức khoẻ của trẻ em hoặc tới an ninh, trật tự an toàn xã hội;
7.         Kinh doanh các loại thực vật, động vật hoang dã, gồm cả vật sống và các bộ phận của chúng đã được chế biến, thuộc Danh mục điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên quy định và các loại thực vật, động vật quý hiếm thuộc danh mục cấm khai thác, sử dụng;
8.         Kinh doanh mại dâm, tổ chức mại dâm, buôn bán phụ nữ, trẻ em;
9.         Kinh doanh dịch vụ tổ chức đánh bạc, gá bạc dưới mọi hình thức;
10.     Kinh doanh dịch vụ điều tra bí mật xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân;
11.     Kinh doanh dịch vụ môi giới kết hôn có yếu tố nước ngoài;
12.     Kinh doanh dịch vụ môi giới nhận cha, mẹ, con nuôi, nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài;
13.     Kinh doanh các loại phế liệu nhập khẩu gây ô nhiễm môi trường;
14.     Kinh doanh các loại sản phẩm, hàng hoá và thiết bị cấm lưu hành, cấm sử dụng hoặc chưa được phép lưu hành và/hoặc sử dụng tại Việt Nam;
15.     Các ngành, nghề cấm kinh doanh khác được quy định tại các luật, pháp lệnh và nghị định chuyên ngành.

Thứ Sáu, 1 tháng 3, 2013

Bí quyết liên kết thành công của CEO tập đoàn Cisco


Tác giả: Morten Hansen (HBP)
Năm 2001, khi bong bóng dot.com đổ vỡ, CEO của tập đoàn Cisco - John Chambers đã chứng kiến toàn bộ giá trị thị trường của số cổ phiếu khổng lồ trị giá 460 tỷ USD của tập đoàn Cisco bỗng chốc biến mất ngay trước mắt ông.
Trò chơi đã kết thúc? Không thực sự như vậy. Vào thời điểm đó, ông Chambers đã bắt đầu một cuộc phát triển lại công ty - từ một trạng thái tâm lý một "tên cao bồi" nơi con người làm việc theo phương thức kép kín - thành một phương thức liên kết. Đến nay điều này đã mang lại một số thành công nhất định. Doanh thu đã tăng tới 90% kể từ năm 2002, trong khi mức lợi nhuận biên tăng thêm 20,8% từ 16,3%. Và Chambers đã giành được vị trí thứ 4 trong bảng xếp hạng các CEO thành công nhất, do tạp chí Harvard Business Review xuất bản cuối tháng trước bình chọn. Không phải là quá tệ.
Ông Chambers đã tạo dựng 5 điều cơ bản sau để thực hiện liên kết, một phương thức mà chúng ta hoàn toàn có thể học hỏi từ đó: tập trung vào giá trị kinh doanh, xoá bỏ mọi rào cản, và tạo ra một nét kiến trúc công ty hoàn toàn mới.
1. Thay đổi phong cách lãnh đạo. Hãy bắt đầu với chính ngài Chambers. Bạn không thể tạo ra sự liên kết nếu bạn là một nhà lãnh đạo ra lệnh-và-điều khiển quá mức. Chính ngài Chambers thừa nhận ông đã từng là người như vậy. Nhưng khi ông nói chuyện với thời báo tài chính "Financial Times, "Điều khó khăn nhất bạn làm với tư cách là một nhà lãnh đạo là phải thay đổi điều gì đó đang hoạt động có hiệu quả. Và thật vậy tôi tin rằng các công ty và các nhà lãnh đạo mà không muốn thay đổi sẽ tụt hậu. Và do vậy tôi phải chuyển từ một nhà lãnh đạo ra lệnh-và-điều khiển (sang kiểu lãnh đạo liên kết)".
Phong cách lãnh đạo liên kết có nghĩa là "hãy để mọi thứ tiến triển" bằng cách để mọi người tham gia vào việc đưa ra các quyết định, lắng nghe ý kiến, tìm ra căn cứ chung, và đấu tranh với sự thoả hiệp.
2. Thay đổi sáng kiến. Steve Kerr, cựu giám đốc đào tạo thuộc tập đoàn General Electric, đã từng viết một bài báo nổi tiếng có tên là "Thật nực cười khi được thưởng A, trong khi lại mong đợi B". Trong trường hợp này, sẽ là "được thưởng công việc độc lập, trong khi lại mong đợi sự liên kết". Điều này không có ý nghĩa.
Trước đây, ngài John Chambers nói với nhóm quản lý cao cấp của ông rằng ông sẽ bắt đầu đo lường xem họ liên kết với nhau đã tốt đến mức nào. Kết quả là, khoảng 15% nhóm quản lý cao cấp đã bỏ đi - đó là những người không thích cách thức mới này hoặc không thể làm được. Bạn có thể nghĩ rằng không hề tốt để mất đi tài năng đó. Tôi nghĩ thế là tốt; điều cốt yếu không chỉ là có được tài năng đó, nhưng phải là một tài năng theo đúng nghĩa.
3. Thay đổi cơ cấu công ty. Nếu "sơ đồ tổ chức của bạn" làm bạn phải làm việc trong các bộ phận độc lập khép kín, thì đó là thứ mà bạn có được - các bộ phận khép kín. Ở tập đoàn Cisco, mọi người làm việc ở các đơn vị kinh doanh độc lập trước năm 2001. Ngài Chambers đã thay đổi tất cả. Ông đã chia nhỏ thành các đơn vị chức năng (phát triển, tiếp thị, bán hàng, sản xuất v.v...). Nhưng một cơ cấu theo chức năng có thể chỉ như là các bộ phận khép kín. Do vậy ngài Chambers đã sắp xếp thành từng tầng trên các ban và uỷ ban đó. Chúng về cơ bản là các nhóm chức năng chéo gồm 10-15 nhà quản lý tham gia vào một nhóm để theo đuổi cơ hội trị giá hơn 1 tỷ đôla (ban) hoặc hơn 10 tỷ đôla (uỷ ban). Mỗi nhóm theo đuổi một cơ hội thị trường mới, như là phần mềm liên kết, các địa điểm được kết nối, đặc tính linh động. Cho đến nay, những nhóm này đang theo đuổi 30 cơ hội kinh doanh mới đáng kinh ngạc.
4. Thay đổi cách thức làm việc. Để biết chắc rằng sự liên kết trong các nhóm này không trở nên khó điều khiển, ngài Chambers và nhóm cộng sự của ông đã phát minh ra một quy trình. Nó được gọi là Tầm nhìn-Chiến lược-Thực hiện. Trước tiên, hãy phát triển một tầm nhìn: thành công sẽ như thế nào trong 3 năm tới? Sau đó phát triển một chiến lược khác biệt: làm sao chúng ta có thể giành thắng lợi trên thị trường? Sau đó chuyển sang
bước thực hiện: ai cần phải làm gì trong vòng 12 đến 18 tháng tới? Công việc trở nên ít liên kết hơn khi nó chuyển sang bước thực hiện và các chức năng cụ thể (sản xuất, ví dụ).
Quy trình này có một lợi ích to lớn: một ngôn ngữ chung. Điều này làm rõ và thúc đẩy nhanh công việc. Mọi người có thể tập trung vào việc sáng tạo trong công việc, chứ không phải là làm việc theo cách nào. Quy trình đó tạo ra một kịch bản.
5. Sử dụng các công cụ truyền thông xã hội mới. Ở nhiều công ty, mọi người ngồi làm việc ở các toà nhà, địa điểm và quốc gia khác nhau. Ngày nay công việc được bao phủ theo phạm vi địa lý. Đối với tập đoàn Cisco, với 60.000 nhân viên, điều đó có thể là cơn ác mộng khi liên kết. Để giải quyết vấn đề này, tập đoàn Cisco sử dụng chính hệ thống đàm thoại hình ảnh có độ nét cao khoảng 4000 lần một tuần. Họ cũng sử dụng một loạt các công nghệ 2.0 khác. Hiện nay, mọi người thường gặp mặt trực tiếp - như vậy nhanh hơn và rẻ hơn.
Lợi ích lớn nhất của phưong thức này là ở chỗ tập đoàn Cisco có thể theo đuổi nhiều cơ hội mới. Nó cũng linh hoạt hơn bởi vì có thể nhanh chóng đưa đúng người làm đúng việc trong một ban. Giám đốc điều hành Keith Goodwin giải thích làm sao họ có thể xâm nhập nhanh chóng vào mảng kinh doanh nhỏ lẻ.
"Mùa xuân năm 2008 chúng tôi nhận ra rằng chúng tôi đã có thể nắm được cơ hội trị giá 10 tỷ đô a Mỹ bằng cách phục vụ tốt hơn cho các công ty có ít hơn 100 nhân viên. Trong vòng chưa đầy hai quý, Uỷ ban đã được thành lập và chuyển ngân sách 100 triệu đôla Mỹ và khoảng 500 nhân viên kỹ thuật, tiếp thị, bán hàng và dịch vụ để tập trung vào thị trường đó".
Rõ ràng là luôn có các nguy cơ đối với phương thức liên kết gồm 5 điều cơ bản, như một số nhà bình luận đã lưu ý. Cụ thể là tôi đã nhìn ra hai rủi ro. Một là các nhà quản lý trở nên quá tải công việc. Như một giám đốc điều hành đã giải thích; "Tôi đang cầu nguyện vì chúng đây - ba uỷ ban, có thể là 6 ban nhỏ". Nguy cơ khác là liên kết quá nhiều: quá nhiều ban nhỏ, cho đến một ngày nó lật ngược thành hỗn độn. Hiển nhiên, ngài Chambers cần phải quản lý hệ thống này một cách thận trọng. Câu chuyện vẫn chưa kép lại, vì vậy chúng tôi vẫn chưa thể tuyên bố thành công cuối cùng. Nhưng đó là một câu chuyện hấp dẫn đáng để xem về cơ cấu tổ chức.
- Bài viết của Morten Hansen trên Harvard Business Publishing. Ông là tác giả của cuốn sách Collaboration: How Leaders Avoid the Traps, Create Unity, and Reap Big Results (Sự liên kết: Cách để cách nhà lãnh đạo tránh khỏi các bẫy, tạo dựng đoàn kết và gặt hái được những thành công lớn) và là giảng viên môn quản lý học ở trường đại học California, trường thông tin và học viện quản trị kinh doanh Châu Âu - INSEAD, Pháp. Để hiểu rõ thêm chi tiết, hãy nghe chương trình phát thanh IdeaCast với chủ đề về những thách thức của quá trình liên kết.