Thứ Hai, 30 tháng 6, 2014

9 thói quen khác biệt của người giàu so với người nghèo

Thói quen có ảnh hưởng không nhỏ tới sự giàu, nghèo của mỗi cá nhân. Nếu như một tỷ lệ lớn người nghèo thích dành thời gian xem TV và mơ ước trúng xổ số, thì người giàu lại thích đọc sách và quan tâm tới vấn đề cân nặng.

Ảnh minh họa.
Ảnh minh họa.

Theo trang Business Insider, ông Thomas Corley - tác quả cuốn sách “Rich Habits: The Daily Success Habits Of Wealthy Individuals” (tạm dịch: "Những thói quen hàng ngày mang tới thành công của người giàu") - đã dành 5 năm nghiên cứu cuộc sống của hai đối tượng giàu và nghèo. Đối tượng thứ nhất của ông Corley là những người giàu có mức thu nhập hàng năm 160.000 trở lên hoặc tài sản ròng trên 3,2 triệu USD, và đối tượng thứ hai là người nghèo với thu nhập năm 35.000 USD trở xuống hoặc tài sản ròng dưới 5.000 USD.

Từ nghiên cứu này, tác giả Corley đã tìm ra 9 thói quen khác biệt của người giàu so với người nghèo:

1. Luôn hướng tới mục tiêu đã đề ra

"Ngày nào tôi cũng tập trung vào mục tiêu của mình"

Tỷ lệ người giàu đồng ý: 62%
Tỷ lệ người nghèo đồng ý: 6%


Người giàu không chỉ đặt ra mục tiêu hàng tháng, hàng năm mà có đến 67% trong số họ có thói quen ghi chép lại những mục tiêu ấy.

Thomas Corley cho viết: “Tôi ngạc nhiên trước những gì phát hiện ra. Tôi vẫn cứ nghĩ mục tiêu là cái gì đó to lớn, nhưng người giàu không coi những điều ước là mục tiêu”. Thay vào đó, với người giàu, mục tiêu chỉ thực sự là mục tiêu khi nó khả thi và bạn có hành động cụ thể để đạt được nó.

2. Biết rõ việc gì cần hoành thành trong ngày

“Tôi luôn viết ra một danh sách những việc cần làm mỗi ngày”

Tỷ lệ người giàu đồng ý: 81%
Tỷ lệ người nghèo đồng ý: 19%


Người giàu có thói quen liệt kê các việc cần làm trong ngày. Ngoài ra, có tới 67% trong số họ thường xuyên hoàn thành khoảng 70% danh sách công việc đề ra.

3. Ít xem TV

“Tôi chỉ xem TV cùng lắm là một giờ đồng hồ mỗi ngày”

Tỷ lệ người giàu đồng ý: 67%
Tỷ lệ người nghèo đồng ý: 23%


Chỉ 6% những người giàu xem các chương trình truyền hình thực tế. Trong khi đối với người nghèo thì con số ấy lên tới 78%. Tác giả Corley giải thích: “Điều khác biệt giữa người giàu và người nghèo là cách sử dụng triệt để thời gian của mình. Người giàu ít xem TV không phải vì họ là những người có sức mạnh phi thường hay gì đó mà đơn giản vì họ còn có những thói quen khác đáng làm hơn là đọc sách”.

4. Đọc, nhưng không phải cho vui

“Tôi thích đọc sách”

Tỷ lệ người giàu đồng ý: 86%
Tỷ lệ người nghèo đồng ý: 26%


Người giàu thường thích đọc sách, nhưng họ chỉ thích đọc loại sách không hư cấu, tức là sách viết về người thật việc thật, nhất là những cuốn viết về việc tự hoàn thiện bản thân. Trên thực tế, có đến 88% người giàu đọc sách 30 phút mỗi ngày trong khi chỉ 2% người nghèo làm điều này

5. Thường xuyên nghe sách âm thanh (audio book)


“Tôi nghe audio book trên đường đi làm”

Tỷ lệ người giàu đồng ý: 63%
Tỷ lệ người nghèo đồng ý: 5%


Nếu không thích audio book, bạn có thể tranh thủ thời gian đi trên đường bằng những hoạt động giúp bản thân hoàn thiện hơn như đánh giá lại việc đã làm, liệt kê việc cần làm, thư giãn, chơi những trò chơi giúp phát triển trí tuệ, check hộp thư đến, vào mạng xã hội để tương tác với bạn bè, người thân…

6. Quyết tâm thể hiện trên cả mức tốt ở nơi làm việc

“Tôi làm nhiều hơn những gì công việc đòi hỏi”.

Tỷ lệ người giàu đồng ý: 81%
Tỷ lệ người nghèo đồng ý: 17%


Có tới 86% người giàu thường làm việc ít nhất là 50 giờ mỗi tuần và chỉ có khoảng 6% trong số họ cảm thấy không thoải mái vì điều đó. Trong khi đó, tỷ lệ người nghèo làm việc ít nhất 50 giờ mỗi tuần chỉ là 43%.

7. Không bao giờ mong trúng số

“Tôi thường xuyên chơi xổ số”

Tỷ lệ người giàu đồng ý: 6%
Tỷ lệ người nghèo đồng ý: 77%

Như vậy  không có nghĩa là những người giàu chỉ biết giấu tiền trong két sắt cho an toàn. Tác giả Corley cho biết: “Phần lớn họ là doanh nhân, thường dồn tiền vào những thương vụ làm ăn và đối mặt với những mạo hiểm tài chính”.

8. Thường xuyên theo dõi cân nặng

“Tôi tính toán kỹ lưỡng lượng calo mỗi ngày”

Tỷ lệ người giàu đồng ý: 57%
Tỷ lệ người nghèo đồng ý: 5%


Người giàu luôn đề cao vấn đề sức khỏe. Một trong số những người tham gia cuộc khảo sát của tác giả Corley năm nay 68 tuổi và sở hữu tài sản 78 triệu USD. Khi được hỏi vì sao vẫn chưa nghỉ hưu, triệu phú này trả lời rằng: “Tôi chăm chỉ tập luyện mỗi ngày và ăn uống chừng mực suốt 45 năm qua bởi tôi biết những năm cuối sự nghiệp mới là lúc tôi kiếm được nhiều tiền nhất”.

9. Chăm chút cho nụ cười của mình

“Tôi sử dụng chỉ nha khoa mỗi ngày”

Tỷ lệ người giàu đồng ý: 57%
Tỷ lệ người nghèo đồng ý: 5%


Điều này hoàn toàn dễ hiểu bởi một nụ cười đẹp giúp bạn gây thiện cảm với người đối diện và  góp phần mang đến cho bạn sự thành công.

Phương Anh
Theo Business Insider

Thứ Năm, 19 tháng 6, 2014

7 lý do bạn nên có công ty riêng

Bao giờ cũng vậy, sau vài năm đèn sách, ra trường, ai cũng nghĩ ngay đến việc tìm cho mình một công ty để đầu quân. Tuy nhiên đây không phải là ý tưởng hay nhất. Tại sao vậy? Đơn giản vì bạn vẫn còn một lựa chọn khác, rất khả thi: làm việc cho chính mình, lập doanh nghiệp của riêng mình. Và đây là 7 lý do bạn nên cân nhắc tới chuyện đó:


1. 24h mỗi ngày tăng thêm "độ dày ví"

Đương nhiên việc kiếm một công việc tốt, thu nhập khá không phải là một ý tưởng tồi. Tuy nhiên nó thực sự không hợp lý lắm. Vì sao? Rất đơn giản: Nếu như bạn làm theo kiểu làm công ăn lương, bạn sẽ chỉ được trả tiền khi bạn làm việc, còn những giờ không làm thì tất nhiên là không. Vậy sao bạn không nghĩ sẽ tốt hơn và dễ dàng hơn cho cái ví của bạn khi chúng vẫn được lấp đầy khi bạn không làm việc?

Một điều tất yếu là dù cuộc sống của bạn có thay đổi thế nào, thì bạn cũng chỉ có 24h mỗi ngày. Trung bình bạn mất 40 giờ làm việc mỗi tuần, nghĩa là chúng ta còn tới hơn 1/3 thời gian không được trả lương, không sinh ra lợi nhuận. Thế nên nếu muốn tăng độ dày ví, tăng số tiền trong tài khoản, chỉ có cách chúng ta... đánh đổi thời gian để kiếm tiền. Nhưng nó lại không phải là cách tốt nhất. Làm thế nào để vẫn có được thời gian nghỉ ngơi, thư giãn, vẫn để thời gian đó sinh ra tiền? Đó mới là vấn đề.

Bắt đầu công việc kinh doanh của mình sẽ là chìa khoá cho vấn đề đó. Trong trường hợp này bạn có thể đầu tư vào một lĩnh vực nào đó, tham gia vào lĩnh vực mang tính sáng tạo, tạo ra các website hay bán bản quyền trí tuệ... Khi đó, hệ thống, công việc mà bạn tạo ra sẽ mang lại đều đều lợi nhuận cho bạn bất kể bạn có trực tiếp tham gia nó hay không.

Tất nhiên thời gian đầu tiên bạn sẽ phải mất thời gian và công sức để tìm ra và thiết lập được hệ thống, công việc mang lại lợi nhuận đều đều đó và giới thiệu chúng đến với hệ thống tiêu thụ. Nhưng ngay sau khi có được hệ thống đó rồi, mọi việc sẽ trở nên đơn giản hơn rất nhiều, bạn sẽ không phải đánh đổi thời gian và công sức để tạo ra tiền bạc nữa. Từng khoảnh khắc của bạn lúc này sẽ có liên hệ trực tiếp với sự tăng trưởng và phát triển của hệ thống. Và quan trọng là chúng sẽ mang lại lợi nhuận cho bạn, bất kể bạn có trực tiếp làm hay không.

2. Mọi lợi nhuận là của bạn

Khi bạn làm công ăn lương, bạn sẽ luôn phải cố gắng để thu nhập của mình không chỉ dừng ở lương mà còn có thưởng, các khoản lợi tức xã hội... song bạn cũng phải trích một phần thu nhập của mình cho sếp và nhà đầu tư. Nghĩa là khi đó, bạn sẽ chỉ được nhận một phần công sức mà bạn làm ra. Lương của bạn thực chất phải cao hơn rất nhiều. Song bạn lại chẳng bao giờ nhận được đúng con số ấy.

Trong khi đó, lựa chọn khôn ngoan hơn: tự mình mở công ty hoặc công việc kinh doanh riêng sẽ mang lại toàn bộ lợi nhuận từ công sức bạn bỏ ra. Tiền bạn làm ra là của bạn hoàn toàn.
3. Tự mình quyết định thu nhập của mình
Khi bạn muốn tăng lương ở một công ty nào đó mà bạn đang đầu quân, bạn sẽ luôn phải chứng minh năng lực vượt trội của mình, khả năng trong công việc để thuyết phục sếp tăng lương. Tuy nhiên không phải bao giờ cố cũng là được.

Trong khi ngược lại, ở công việc kinh doanh của mình, công ty của mình tạo ra: khi bạn muốn mình thu nhập bao nhiêu, đó là quyết định của bạn, phụ thuộc hoàn toàn vào nỗ lực của bạn.

Tự mình quyết định về thu nhập của mình, mối quan hệ của mình với đồng nghiệp...

4. Học được nhiều bài học hơn về độc lập tài chính

Giống như một quy luật, chúng ta làm việc để có được kinh nghiệm. Tuy nhiên ai cũng hiểu, kinh nghiệm không chỉ được tìm thấy trong công việc mà còn có thể thấy trong cuộc sống và nhiều thứ khác nữa. Hơn nữa công việc nào cũng chỉ cho chúng kinh nghiệm ở trong chính công việc ấy. Cũng có nghĩa chúng ta đã bỏ lỡ rất nhiều cơ hội quan trọng và giá trị khác trong cuộc sống.

Bạn hãy tự hỏi mình lại xem nào: Bạn cần học cách làm thế nào để làm một công việc bình bình tốt? Bạn cần học cách đánh đổi thời gian lấy tiền hay bạn cần học cách quản lý tài chính độc lập mà không cần làm việc chỉ để lấy lương? Đương nhiên bạn sẽ chọn cách thứ 3 đúng không? Vậy thì còn chần chừ gì mà không bắt đầu?
5. Tự do thoải mái khi làm việc
Một điều không thể tránh khi làm việc theo kiểu làm công ăn lương là bạn có liên hệ trực tiếp tới người quản lý hoặc sếp. Và có nghĩa vụ phải chấp hành quy tắc, quy định hay chỉ thị của cấp trên. Nhưng chuyện gì sẽ xảy ra khi bạn không muốn tuân lệnh hoặc không chấp hành đầy đủ yêu cầu của cấp trên? Rất nhiều người gặp phải trường hợp này. Và khi bị "đàn áp" quá, chắc chắn xung đột sẽ xảy ra.

Thế nên có một công việc kinh doanh của mình, một công ty của mình, bạn sẽ rất tự do thoái mái quyết định công việc của chính mình mà không phải tuân theo "lệnh" của ai cả.

6. An toàn

Ai cũng nghĩ đơn giản rằng, chọn một công ty để đầu quân và cống hiến cho nó là một giải pháp chắc chắn và an toàn nhất cho chính mình và người thân.

Trong khi có một thực tế hiển nhiên khác mà chúng ta không nhận ra, khi làm việc cho ai đó, cho công ty của một ai đó, bạn sẽ phải phụ thuộc vào họ, an toàn của bạn là ở họ. Và bạn sẽ không thể cảm thấy an toàn khi mà bạn không thể kiểm soát được các tình huống xảy ra.

Nhưng nếu bạn làm việc cho chính bạn, cho công việc kinh doanh, cho công ty của bạn, sự an toàn nằm hoàn toàn ở bạn, vì khi ấy bạn có thể kiểm soát được mọi thứ.
7. Tự quyết về các mối quan hệ xã hội và thoải mái luân chuyển
Khi bạn làm việc tại một công ty nào đó, điều đương nhiên là bạn phải giao tiếp với đồng nghiệp, hít thở chung bầu không khí với họ, tạo mối quan hệ với họ. Chưa kể mỗi công ty có một văn hoá doanh nghiệp riêng và nó đương nhiên sẽ giới hạn phần nào cá tính, con người của bạn. Chắc chắn là chẳng ai muốn mình bị lệ thuộc như vậy cả.

Đó là lý do bạn nên có một công việc kinh doanh của mình để có thể hoàn toàn tự quyết định ai hay khi nào bạn giao tiếp, tạo lập quan hệ với họ thế nào và cư xử với họ ra sao. Bạn có thể làm những gì bạn thích và tận hưởng cuộc sống theo cách của họ.

Tất nhiên mỗi người có một lựa chọn của mình hoặc đầu quân cho công ty nào đó với thu nhập ổn định, hoặc chịu mạo hiểm tìm đường đi riêng cho mình với công ty riêng, công việc kinh doanh riêng hoặc kết hợp cả hai. Tuy nhiên dù lựa chọn cách nào thì bạn cũng phải thực sự thành thật với quan điểm cách nghĩ của mình và chuẩn bị tốt nhất cho con đường bạn chọn. Để thời gian dù có đi qua bao lâu thì khi nghĩ lại, bạn vẫn có thể tự hào: đó là quyết định sáng suốt nhất cuộc đời mình.

Thứ Ba, 17 tháng 6, 2014

KIPI SYSTEM TRAINING FOR TOP MANAGEMENT, MID-MANAGENET AT MINH PHAT PLASTIC












8 thói quen sẽ mang đến nhiều tiền hơn

8 thói quen sẽ mang đến nhiều tiền hơn
Nếu bạn muốn trở thành một triệu phú trong tương lai!
Nếu may mắn được thừa kế tài sản với sáu con số hoặc kiếm được một công việc với mức lương cao, bạn sẽ có cơ hội để nằm trong số 1% những người giàu nhất hành tinh – nhưng chỉ khi hoàn thành một điều kiện: Kiểm soát thói quen xài tiền, điều thường tạo ra sự khác biệt giữa một cuộc sống thịnh vượng và một cuộc sống liên tục bị căng thẳng về khó khăn tài chính. 


#1. Hãy đi ngược với suy nghĩ thông thường 

 
Hầu hết mọi người chi tiêu một số tiền, thanh toán hóa đơn của họ và tiết kiệm những gì còn lại. Nhưng đây mới là suy nghĩ nên được áp dụng: Hãy tiết kiệm cho các mục tiêu tài chính của bạn đầu tiên, thanh toán các hóa đơn và sau đó xem xét chi tiêu số tiền còn sót lại. Nếu có thể kiếm được 10 triệu trong một tháng, hãy chia nhỏ số tiền này thành các phần 500 nghìn, hoặc một số tiền nhỏ hơn nhưng phù hợp để trang trải cho cuộc sống hằng ngày của bạn. Từ đó, hãy cố gắng kiềm chế thói quen vung tiền mạnh tay, xài nhỏ giọt nhưng hợp lý – Đừng đánh giá thấp sức mạnh của những cái nhỏ, bởi vì khi có thể để dành những khoản nhỏ, chúng sẽ từ từ tăng lên và tạo cho chúng ta thói quen để tiếp tục.

#2. Lập mục tiêu
 

Để tiếp tục đi trên con đường tiết kiệm cho tương lai, các chuyên gia tài chính thường đề nghị có một kế hoạch năm năm , nơi bạn đề ra số tiền mình muốn đạt được trong 5 năm sau đó và những gì bạn cần để hoàn thành mục tiêu. Hãy luôn để những mục tiêu cụ thể này tồn tại trong tâm trí, nhắc nhở bản thân mỗi lần định chi tiêu cũng như giúp chúng ta tiết kiệm sống tiết kiệm hơn.

#3. Sai khiến bộ não thay vì để bộ não sai khiến
 

Tại sao bạn lại sẵn sàng chi 3 triệu cho một chiếc ví hiệu hoặc một món đồ đắt tiền nhưng lại ngập ngừng khi bỏ ra chỉ 300 nghìn để đi khám bệnh hoặc mua thực phẩm? Lần tới, hãy định hình lại suy nghĩ hoặc đặt ra những giới hạn cho bản thân. Chẳng hạn, không chi tiêu nhiều hơn 600 nghìn vào việc nhậu nhẹt, hoặc nhiều hơn 900 nghìn cho một đôi giày – hay nhận thấy việc tự tìm ra những quy tắc phù hợp có vẻ như một nhiệm vụ quá sức, hãy bắt đầu với một cái gì đó đơn giản hơn như ăn uống bên ngoài chỉ hai lần một tuần, hoặc đừng lấy xe đẩy hàng khi vào siêu thị. 


#4. Sống như một triệu phú ẩn danh
 

Hầu hết chúng ta đều nghĩ rằng, hình ảnh của một triệu phú gợi đến những biệt thự sắc màu rực rỡ và chiếc Bentley sáng bóng. Nhưng đa số họ lại không sống xa hoa như thế - đúng hơn, họ có xu hướng sống dưới “khả năng tiền bạc" của họ và làm lụng để tiết kiệm nhiều hơn là chi tiêu. Nói cách khác, những triệu phú thường không khoe khoang tiền của mình, theo tiến sĩ Thomas J. Stanley, đồng tác giả của "The Millionaire Next Door.

Lấy ví dụ với David Sapper từ Las Vegas, người sở hữu một doanh nghiệp xe hơi đã qua sử dụng hiện đang rất thành đạt, cùng với người vợ đang làm môi giới bất động – tổng thu nhập của cả hai lên đến $500,000 mỗi năm. Tuy nhiên, họ chỉ chi tiêu $ 2,500 mỗi tháng trên tất cả các hóa đơn từ ăn uống cho đến giải trí hay giáo dục. Bằng cách đặt cả thảy 90% thu nhập của mình vào danh mục tiết kiệm và đầu tư, Sapper nói rằng ông sẽ nghỉ hưu sớm.

Có một lần, LL Cool J đã phát biểu trên MTV như sau: "Tôi thuê một chiếc Honda Accord với giá 399 USD một tháng, trong khi những  rapper khác đang  phá sản".

#5. Biết rõ tiền của mình 
 

Tiết kiệm tiền là một việc tốt. Nhưng nếu bạn không biết chắc những gì sắp vào tài khoản ngân hàng của mình cùng những lần rút tiền trong tháng, mọi chuyện có thể sẽ dẫn đến một mớ hỗn độn. Có một sự thật là, hầu hết mọi người thường không theo dõi thu nhập và chi tiêu của mình, vì vậy, nếu chính bản thân còn không biết sẽ chi tiêu bao nhiêu cho ăn uống tháng này, làm thế nào chúng ta có thể thay đổi điều đó.

#6. Thoát khỏi những khoản nợ
 

Mọi người đều có một số nợ tại một số thời điểm trong cuộc sống của mình. Có một hình thức vay  nặng lãi “ẩn danh” mà rất nhiều người đang mắc phải ở thời điểm hiện tại: Nợ thẻ tín dụng, nơi mà mỗi người chúng ta đang phải trả lãi suất hàng tháng rất cao - thoát khỏi nó phải là ưu tiên số một. Bên cạnh đó, hãy xây dựng một quỹ tiết kiệm khẩn cấp cho những tình huống không mong đợi chực chờ ập đến trong cuộc sống. Số tiền tiết kiệm khẩn cấp này chính là bảo hiểm giúp cho chúng ta không rơi vào vướng mắc nợ nần với thẻ tín dụng thêm lần nữa. "

#7. Tăng thu nhập 
 
 
Có hai cách đơn giản nhất để gia tăng tài sản: Tiêu xài ít hơn hoặc tiết kiệm nhiều hơn – sau đó, hãy đầu tư phần còn lại. Thu nhập thường xuyên của bạn (tiền lương) sẽ không dẫn đến giá trị tài sản cao hơn vì lối sống lẫn chi phí phát sinh sẽ phát triển cùng với nó. Thay vào đó, hãy tìm kiếm cơ hội đầu tư, những nguồn thu nhập cho thuê, thu nhập bán thời gian,lẫn tài sản hưu trí - với sự giúp đỡ của một nhà kế hoạch tài chính - hoặc những cách khác để thu nhập đến với bạn. 


#8. Hãy xem xét ý kiến chuyên gia tư vấn
 

Ngay cả khi bạn đang hướng thói quen tiêu tiền của mình trở nên tốt hơn, hãy cố gắng tham khảo các kế hoạch tài chính từ các chuyên gia. Vì thông thường, chúng ta bị ảnh hưởng bởi quá nhiều cảm xúc trong việc đưa ra một quyết định về tiền bạc – và những chuyên gia tài chính; những người ngoài cuộc, sẽ có một cái nhìn chính xác lẫn chuyên nghiệp hơn là một kẻ trong cuộc đang bị chi phối bởi quá nhiều thứ như bạn. 

Thứ Ba, 20 tháng 5, 2014

Những sai lầm thường gặp khi Ứng dụng BSC và KPI tại doanh nghiệp Việt

  Những sai lầm thường gặp khi Ứng dụng BSC và KPI tại doanh nghiệp Việt (phần 01)Ở những bài viết trước chúng tôi đã giới thiệu cho quý bạn đọc biết về BSC và KPI như: KPIs là gì? Xây dựng KPIS như thế nào cho hiệu quả, Quy trình xây dựng KPI… Trong bài viết kỳ này chúng tôi sẽ giúp quý bạn đọc tìm hiểu thêm những sai làm thường gặp khi ứng dụng BSC và KPI tại doanh nghiệp Việt Nam.
Trước tiên, chúng tôi cần khẳng định rằng hệ thống BSC & KPI không hề có lỗi vê những thất bại của các doanh nghiệp trong việc ứng dụng nó. Những sai lầm phổ biến thường đến và phát sinh trong quá trình vận hành và triển khai hệ thống, hay nói một cách cụ thể hơn nó phát sinh từ chính những vấn đề nội tại của doanh nghiệp và chính sự vận dụng một cách máy móc trong khi chưa nắm bắt được những yếu tố thuộc về bản chất, cố lõi của hệ thống cụ thể như sau:
1. Doanh nghiệp Việt thường thiếu chiến lược kinh doanh.
Ai cũng biết BSC & KPI bên cạnh vai trò là một công cụ quản lý hiệu suất, hệ thống này thực chất là một công cụ quản trị chiến lược, quản trị mục tiêu một cách xuyên suốt từ cấp cao nhất đến những vị trí thấp nhất trong một tổ chức. Để ứng dụng thành công BSC&KPI, mỗi doanh nghiệp tất yếu phải có một chiến lược kinh doanh cụ thể dài hơi. Nhưng có lẽ vấn đề này lại là một khâu yếu nhất tại nhiều doanh nghiệp Việt Nam hiện nay. Nhiều tổng giám đốc khi được phỏng vấn về những mục tiêu dài hạn, những chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp mình thường trả lời một cách chung chung, mơ hồ, đó là nguyên nhân dẫn đến những bản kế hoạch kinh doanh trung hạn, được thực hiện một cách hình thức, thiếu sự nghiên cứu nghiêm túc và không có giá trị thực tiễn. Và một lẽ tất yếu khi không có một mục đích đến cụ thể thì đi đường nào cũng không thể đi đến đích; và đương nhiên khi đó BSC&KPI có khoa học, hiện đại đến mấy thì cũng không thể đem lại hiệu quả như mong muốn bởi chính những người sử dụng và áp dụng hệ thống này cũng không có một thước đo hiệu quả nào.
Những sai lầm thường gặp khi Ứng dụng BSC và KPI tại doanh nghiệp Việt (phần 01)
2. Nhầm lẫn giữa kế hoạch kinh doanh và các chỉ tiêu KPI
Dịch nguyên nghĩa từ tiếng anh, KPI có nghĩa là chỉ số hiệu suất cốt yếu. Tuy nhiên, ở nhiều doanh nghiệp hiện nay, KPI được hiểu và sử dụng như một bản kế hoạch kinh doanh tương ứng của các bộ phận và cá nhân được giao theo từng thời kỳ. Cách hiểu như vậy đã dẫn đến một sai lầm nghiêm trọng và mang tính hệ thống trong toàn bộ tổ chức khi mọi cá nhân đều “chạy theo” các chỉ tiêu của cá nhân hoặc bộ phận trong khi lại sao nhãng các chỉ tiêu cốt yếu của cả tổ chức, doanh nghiệp. Tình trạng rối loạn vẫn xảy ra khi mọi cá nhân đều nỗ lực “giải quyết” các chỉ tiêu của mình, trong khi các nguyên nhân cốt lõi không được làm rõ thì đương nhiên, các sai lầm được đổ lỗi cho một hệ thống mới áp dụng.
3. Ứng dụng BSC&KPI một cách “nửa vời”
Hãy hình dung hình ảnh của một đàn chim bay về phương Nam tránh rét, chúng luôn tới được đích bởi chúng có một con đầu đàn đủ sức đưa đường dẫn lối, nhưng quan trọng hơn là bởi mỗi cá nhân trong đó đều được truyền tải đích đến cuối cùng của mình. BSC&KPI chính là một công cụ có hiệu quả đặc biệt trong việc gắn kết các mục tiêu trong cùng một tổ chức. Tuy nhiên, qua thực tế cho thấy rất nhiều doanh nghiệp ở Việt Nam đang triển khai ứng dụng hệ thống này một cách “nửa vời”. Thông qua hệ thống KPI, các mục tiêu của công ty chỉ được truyền đạt tới đội ngũ quản lý cấp trung còn đối với đội ngũ nhân viên thừa hành lại tiếp tục được sử dụng những hệ thống chỉ tiêu chung, thiếu tính đặc thù cho từng vị trí công việc và thậm chí cũng không liên quan gì đến mục tiêu chung của tổ chức. Quay lại với hình ảnh đàn chim di cử, khi những con đầu đàn bay đúng hướng nhưng phía sau chúng là một đội ngũ rối loạn không có đích đến, chắc chắn đàn chim này không thể bay tới đích.
Cuối cùng, chúng tôi chúc quý độc giả sẽ có thêm những hiểu biết chuyên sâu về BSC&KPI và tránh những sai lầm không đáng có khi áp dụng BSC&KPI tại doanh nghiệp mình. Và quý độc giả muốn tìm hiểu thêm về bài viết này thì xin chờ đến phần tiếp theo.

4. Thiếu kiên trì và thiếu quyết liệt khi ứng dụng BSC&KPI.
“Không có hiệu quả gì cả”, “công cụ này không phù hợp với doanh nghiệp của tôi”, nhiều chủ doanh nghiệp đã thốt ra như vậy sau 1 năm thậm chí là 6 tháng triển khai áp dụng hệ thống BSC&KPI. Bất kỳ một hệ thống nào cũng cần phải có quá trình thử nghiệm và điều chỉnh cho phù hợp, vấn đề này đặc biệt quan trọng khi đó là một hệ thống làm thay đổi triết lý quản trị, thay đổi phương thức hoạt động của một tổ chức mà trong đó vai trò của con người là trung tâm. Xây dựng hệ thống đã khó, triển khai ứng dụng nó sao cho phù hợp với đặc thù của tổ chức mình là cả một quá trình. Do đó đừng vội vàng kết luận về hiệu quả của một công cụ khi bạn chưa cho nó đủ thời gian phát huy tác dụng hay thậm chí còn chưa sử dụng hết các công năng của nó.
Chẳng hạn như có một doanh nghiệp trong lĩnh vực chứng khoán triển khai áp dụng hệ thống BSC&KPI vào hoạt động quản trị chiến lược và quản lý hiệu suất công việc, đồng thời thay đổi cơ chế trả lương theo 3P. Chỉ trong 6 tháng đã đem lại kết quả rõ nét, năng suất lao động hầu hết được cải thiện, cá biệt có những bộ phận gia tăng gấp đôi. Tuy nhiên, mọi vấn đề phức tạp lại phát sinh từ một quyết định thiếu tính toán và theo lối mòn cũ của TGĐ. Sau kỳ đánh giá 6 tháng một Phó TGĐ không đạt KPIS được giao nhưng thay vì áp dụng những chế tài với đối tượng không hoàn thành KPIS, TGĐ của công ty lại quyết định điều chỉnh các chỉ tiêu của 6 tháng trước đó để thay đổi kết quả thực hiện của vị Phó TGĐ và lẽ tất yếu đã làm “méo mó” cả hệ thống. Một nét “văn hóa KPI” đang được hình thành tại doanh nghiệp này phút chốc có nguy cơ sụp đổ khi những nguyên tắc và chuẩn mực bị phá vỡ. Hệ thống BSC&KPI đang ứng dụng bỗng trở thành không hiệu quả khi việc điều chỉnh chỉ tiêu trở nên phổ biến. Điều đó minh chứng cho sự thiếu kiên trì trong việc ứng dụng BSC&KPI và mức độ quyết liệt khi triển khai thực hiện.
5. Thiếu hệ thống thu thập thông tin.
BSC&KPI là một hệ thống quản trị chiến lược, quản trị mục tiêu hiệu suất của tổ chức. Nhìn vào hệ thống các chỉ tiêu, thông thường người ta chỉ nhìn thấy cái kết quả cuối cùng. Nhưng nếu chỉ nhìn nhận và triển khai áp dụng như vậy thì tất yếu việc ứng dụng BSC&KPI sẽ không đem lại hiệu quả như mong muốn. Thế mạnh của hệ thống này là khả năng định lượng ngay cả công việc có tính chất định tính, và từ đó tạo cơ sở cho việc giám sát theo dõi một cách thường xuyên sự vận hành của hệ thống trên con đường đi đến mục tiêu đã đề ra, đồng thời để có thể đề ra những biện pháp hiệu chỉnh và thúc đẩy cho phù hợp. Nhiều doanh nghiệp Việt Nam ứng dụng BSC&KPI nhưng lại không chuẩn bị cho mình một hạ tầng thu thập thông tin đầy đủ để giám sát quá trình thực hiện và đánh giá mục tiêu của các bộ phận, cá nhân. Việc đánh giá thiếu chính xác dẫn đến không có được những biện pháp hỗ trợ và thúc đẩy các hoạt động, khiến hệ thống BSC&KPI mất đi rất nhiều tác dụng vốn có của nó.
6. Thiếu sự phân cấp trong hoạt động
Thói quen quan liêu, ôm đồm của người lãnh đạo doanh nghiệp sẽ gây ra khó khăn cho việc ứng dụng mọi công cụ quản trị chứ không chỉ riêng BSC&KPI. Sự thiếu phân cấp, phân quyền trong hoạt động quản lý doanh nghiệp khiến mọi quyết định, mọi kết quả đánh giá trở lên chủ quan, duy ý chí và lệ thuộc hoàn toàn vào người đứng đầu doanh nghiệp và tất nhiên phong cách lãnh đạo này không thể phù hợp với hệ thống quản trị hiện đại đòi hỏi mỗi cá nhân trong guồng máy phải có quyền chủ động, sáng tạo để phát huy vai trò chuyên biệt của mình trong một phạm vi đủ rộng.

Thứ Sáu, 3 tháng 1, 2014

CON NGƯỜI VÀ 9 CHỈ SỐ CẦN BIẾT (IQ, EQ, CQ, AQ ...)

Để thành công trong công việc và và thành đạt trong cuộc sống, có người cho rằng quan trọng nhất là có chỉ số IQ cao, có người lại cho rằng chỉ số EQ quan trong hơn ..v.v. Vậy, chỉ số IQ, EQ, CQ, ... là gì?

1. IQ (Intelligence Quotient) - Chỉ số thông minh:
Chỉ số thông minh IQ được tính theo công thức: IQ = (AM/AR) x 100. Trong đó AM là tuổi khôn, AR là tuổi thực. Tuổi khôn được xác định qua các nghiệm pháp (Tests) hình vẽ ... để kiểm tra khả năng nhớ, suy đoán, tính toán ... Chỉ số IQ là một tính trạng số lượng, sự hình thành và phát triển tính trạng này là kết quả tác động cộng gộp của nhiều gen tác động theo cùng một hướng cho nên trị số IQ trong quần thể người là một dãy liên tục theo phân bố Gauss.

Theo Binet phân loại IQ trong quần thể người như sau:
IQ Biểu hiện:
  • 140 trở lên: Thiên tài
  • 120-140: Rất thông minh
  • 110-120: Thông minh
  • 90-110: Trung bình
  • 80-90: Trí tuệ hơi kém
  • 70-80: Trí tuệ kém
  • 50-70: Dốt nát
  • 25-50 : Đần độn
  • 0-25: Ngu

Chúng ta mới thấy có những người thật "điêu ngoa", chửi người khác là "ngu", nhưng nghe từ này nhiều rồi nên người nghe ít thấy bị xúc phạm hơn khi họ bị chửi là "đần độn" mặc dù ngu có chỉ số IQ thấp nhất.

2. EQ (Emotional Quotient) - Trí thông minh cảm xúc:
Người ta thường nói "với IQ người ta tuyển lựa bạn, nhưng với EQ, người ta đề bạt bạn". Những người thành đạt không phải là người có IQ cao nhất mà có EQ cao nhất. EQ thể hiện khả năng của một người hiểu rõ chính bản thân mình cũng như thấu hiểu người khác ít nhiều giống với khái niệm mà Gardner gọi là trí thông minh trong người và thông minh giữa người. Hơn thế, nó còn là khả năng chế ngự cảm xúc để thích ứng với hoàn cảnh và kiểm soát các cảm xúc. Người có EQ cao do vậy dễ thích nghi, luôn tìm được sự hòa hợp trong một tập thể, dễ dàng nhận được sự hợp tác hơn những "thiên tài đơn độc" (mà trong thời đại hiện nay, tính tập thể trong làm việc việc hết sức quan trọng). EQ một phần là bẩm sinh nhưng cũng do giáo dục, rèn luyện mà có được. Việc giáo dục tình cảm phải được thực hiện từ khi trẻ còn nhỏ, hệ thần kinh chưa trưởng thành, có nhiều cơ hội tiếp nhận những cảm xúc mới. EQ không đối lập với IQ, mà mục đích của giáo dục là phát triển song song hai chỉ số này. Có những người được thiên phú cả hai, nhưng không ít người lại thiếu cả hai.

3. SQ (Social Quotient SQ) - Thông minh xã hội:
Rộng hơn nữa, khả năng biết dựa vào EQ kết hợp với sự nhạy bén trong nhận thức những cái mới nảy sinh trong xã hội để chủ động điều tiết cách ứng xử của mình trong cộng đồng được các nhà tâm lý học phát triển thành một khái niệm gọi là Thông minh xã hội (Social Intelligence, xác định bằng chỉ số thông minh xã hội Social Quotient SQ).

4. CQ (Creative Intelligence) - Trí thông minh sáng tạo:
Bất cứ hoạt động trong lĩnh vực nào cũng không chỉ dựa vào những cái có sẵn mà phải phát triển nó lên. Tuy nhiên cách phát triển ấy ở mỗi người một khác, có thể là sự tiệm tiến, nhưng cũng có thể là những bước đột phá, những bước nhảy vọt. Khi đó, sự sáng tạo được thể hiện. Có những người cho rằng chính sự sáng tạo mới phân biệt giữa người này với người khác và chính nó là cốt lõi của trí thông minh. Đó là lý do để người ta đưa ra một khái niệm mới, một tiêu chí đánh giá nữa, được gọi là Trí thông minh sáng tạo (Creative Intelligence và tương ứng CQ). Xét cho cùng, chính trí thông minh sáng tạo mới làm nên lịch sử khoa học kỹ thuật và công nghệ, mới xây dựng được một kho tàng văn hóa nghệ thuật khổng lồ, mới thúc đẩy sự tiến hóa của nhân loại.

5. PC (Passion Quotient) - Chỉ số say mê:
Là bất cứ việc gì cũng chỉ thành công nếu toàn tâm toàn ý dành cho nó. Để đặc trưng cho phẩm chất này người ta đưa ra khái niệm Chỉ số say mê (Passion Quotient, viết tắt PQ) và cùng với nó là Chỉ số nghề nghiệp (Career Quotient CQ).

6. AQ (Adversity Quotient) - Chỉ số vượt khó:
AQ là viết tắt của Adversity Quotient (chỉ số biểu thị khả năng vượt qua nghịch cảnh, bất hạnh, lao đao... gọi tắt là chỉ số vượt khó). AQ là gì? đó là phương thức phản ứng đối với những tình huống khó khăn của cuộc đời; đó là năng lực về phương diện tâm lý, giúp con người tìm ra lối thoát trong những tình huống khó khăm, bế tắc và vượt qua những chướng ngại trên đường đời. AQ là tổng hoà của ý chí và trí tuệ. Dựa vào AQ có thể dự đoán và nhận biết: Trong quá trình theo đuổi mục tiêu, ai là người tích cực tiến thủ, có khả năng khắc phục khó khăn, kiên trì đến cùng, phát huy được tiềm năng và giành được thành công: Ai là người không chịu nổi thử thách và nửa đường bỏ cuộc; Ai là người bó tay đầu hàng và chẳng làm nổi việc gì.

7. SQ (Speech Quotient) - Trình độ biểu đạt ngôn ngữ:
SQ là gì? Đây là chữ viết tắt từ tiếng Anh: Speech Quotient, có nghĩa là trình độ biểu đạt ngôn ngữ. Chỉ số SQ là thước đo tổng hợp để đánh giá khả năng ngôn ngữ, mức độ biểu đạåt chính xác và hữu hiệu của một cá nhân.

8. MQ (Moral Quotient) - Chỉ số đạo đức:
Nhiều người còn đánh giá phẩm chất cá nhân theo Chỉ số đạo đức (Moral Quotient, MQ). Vấn đề này không cần bàn nhiều vì đã được thừa nhận chung. Bao giờ cụm từ "có đức có tài" cũng đi liền với nhau.

9. StQ (Stupid Quotient) - Chỉ số ngu ngốc:
Một chỉ số rất quan trọng nữa đó là Chỉ số ngu ngốc (Stupid Quotient, viết tắt là StQ) do một người nghi ngờ nhiều về bản thân mình nghĩ ra. Một điều đặc biệt là chỉ số này tồn tại độc lập và không có tương quan gì với các chỉ số kể trên.

================CHÚ Ý===================
$$$$$$$$ AQ (Adversity Quotient) là chỉ số đo khả năng đối xử/quản lý nghịch cảnh, khó khăn, stress, gọi tắt là chỉ số vượt khó. Bên cạnh những đại lượng quá quen thuộc như IQ (chỉ số thông minh) hay EQ (chỉ số cảm xúc), AQ hiện được coi là một trong những chỉ số định lượng các phẩm chất tạo nên thành công của con người.

IQ, EQ đã lỗi thời?
Bạn tự hào về chỉ số IQ (Intelligence Quotient - chỉ số thông minh) của mình. Nó có thể thể hiện trí thông minh "thô" của bạn, nhưng nhiều chuyên gia cho rằng, nó chỉ là 1 yếu tố nhỏ tạo nên thành công. Manh nha hình thành từ năm 1912, khái niệm IQ đã "thống trị" khá lâu trong quan niệm về thước đo phẩm chất dẫn đến thành công của con người. IQ, theo quan niệm phổ thông, thường được mặc định song hành với khả năng tư duy. Tuy nhiên, sau này, nhà tâm lý học Howard Garner đã mở rộng khái niệm IQ, khi chứng minh sự tồn tại của 8 dạng thức thông minh khác nhau và các yếu tố này đều ảnh hưởng đến thành công của một người. Năm 1995, Daniel Goleman đã giới thiệu 1 khái niệm mới: Năng lực xúc cảm (EQ - Emotional Quotient) như một yếu tố cơ bản dẫn đến thành công. Sự phát hiện này giải thích tại sao 1 số người không thông minh lý tính (IQ) nhưng có sự nhạy cảm cao lại thành công hơn những người có chỉ số IQ cao. Ngoài IQ, EQ và AQ, trong cuốn sách "Thế giới phẳng: Tóm lược lịch sử thế giới thế kỷ 21" của nhà báo Thomas L. Friedman, xuất bản lần đầu năm 2005, còn đề cập 2 khái niệm CQ (Curiosity Quotient - Chỉ số tò mò) và PQ (Passion Quotient - Chỉ số đam mê) và coi tổng hợp 2 chỉ số này có thể còn cần thiết hơn IQ (CQ + PQ > IQ). Năm 1997, nhà tâm lý học người Mỹ Paul Stoltz lần đầu tiên đưa ra 1 khái niệm mới: AQ (Adversity Quotient) trong cuốn sách "Adversity Quotient: Turning Obstacles into Opportunities" (AQ: Xoay chuyển trở ngại thành cơ hội). Trong đó, ông định nghĩa, AQ là đại lượng đo khả năng đối diện và xoay sở của một người trước các thay đổi, áp lực và các tình huống khó khăn. Trong cuốn sách xuất bản sau đó, Adversity Quotient @ Work, bàn kỹ hơn về vấn đề tương tự, ông giải thích cụ thể hơn cách thức áp dụng khái niệm AQ, để có thể mang lại lợi ích. Tác giả khẳng định, AQ giải thích tại sao một số người không hẳn thông minh, hay được giáo dục tốt, đồng thời thiếu hiểu biết xã hội, mà lại thành công trong khi nhiều người khác thất bại. Được viết ra trên cơ sở tích luỹ kinh nghiệm thực tế từ nhiều nghiên cứu với hàng ngàn giám đốc điều hành và nhân viên trong hàng trăm lĩnh vực kinh doanh đa dạng, cuốn sách này đã nhanh chóng trở thành handbook (sổ tay) bí quyết thành công ở nhiều tập đoàn, tổ chức. Nó cũng được sử dụng trong những bài tập dành cho các VĐV thể thao Olympic, những trường học, những tập đoàn, doanh nghiệp dùng để đào tạo nhân viên. AQ: Chỉ số vượt khó Paul Sloltz đã phát triển khá nhiều ý tưởng của mình từ những nhà tâm lý học đi trước, như Abraham Maslow, tác giả của tháp Maslow nổi tiếng; từ Martin Seligman, tác giả của sách "Học lạc quan", và Stephen R. Covey, tác giả của "7 thói quen của người thành đạt". Nhiều nhà tâm lý đã ủng hộ rất nhiệt tình cho thuyết AQ này. Điều này góp phần khẳng định, việc lượng hóa những phẩm chất tâm lý bậc cao là một điều có thề làm được như đã từng làm với trí tuệ (IQ) và cảm xúc (EQ). Paul Sloltz cho rằng, những người có AQ thấp thường dễ xúc động và dễ buông xuôi trước nhiều vấn đề trong cuộc sống. Trong khi, những người có AQ cao sẽ ít khi đầu hàng và dễ dàng trở thành lãnh đạo trong tương lai. Theo 1 cuộc điều tra xã hội học, với hơn 150.000 lãnh đạo doanh nghiệp trong hầu hết các lĩnh vực trên thế giới, có nhiều người thuộc tuýp Quitter (5-20%), phần lớn thuộc dạng Camper (65-90%), và chỉ có rất hiếm người thuộc dạng Climber. Ông phân định ra 3 dạng người dựa trên cách thức họ đối diện với những khó khăn, thử thách trong cuộc đời. Đó là: Quitter, Camper và Climber.

1. Quitter: Là những người dễ buông xuôi.
Họ dễ dàng nản chí, dễ dàng từ bỏ việc theo đuổi 1 công việc, 1 dự định và cao hơn là 1 mục đích sống. Và, kết quả là thường giữa đường đứt gánh, và nhận thất bại, hoặc kết quả không như ý.

2. Camper: Là những người chịu khó, làm việc chăm chỉ, có ý thức phấn đấu rèn luyện bản thân, và sẽ làm nhiều thứ để đạt tới 1 mức độ nhất định nào đó trong cuộc sống.
Tuy nhiên, họ dễ hài lòng và thoả hiệp với bản thân để thấy như vậy là đủ.

3. Climber: Là những người có sự kiên định và hoài bão lớn.
Họ luôn học hỏi, rèn luyện bản thân, nỗ lực cố gắng để đạt tới những mức độ tốt nhất có thể trong khả năng. Họ cũng thường là tuýp người không chấp nhận 1 tình thế sẵn có, và tìm cách xoay xở để cải thiện nó tốt hơn. Theo đó, ông coi chỉ số đo khả năng vượt qua những điều kiện khó khăn là yếu tố lớn nhất trong những phẩm chất tạo nên sự thành công cho con người. Theo Paul Sloltz, chỉ số AQ có thể đo mức độ hoài bão, nỗ lực, sự sáng tạo, năng lượng, sức khoẻ lý tính, xúc cảm và hạnh phúc của một người. Nó cũng chính là một chỉ báo về 4 mức độ cao thấp của bản lĩnh sống:

1. Đối diện khó khăn
2. Xoay chuyển cục diện
3. Vượt lên nghịch cảnh
4. Tìm được lối ra

Theo quan niệm của nhiều người, IQ và EQ là những khái niệm "fix", có nghĩa là phần nhiều thuộc về "thiên phú", khó có khả năng thay đổi. Trong khi đó, AQ là đại lượng có thể được rèn luyện để "cải thiện, nâng cấp". Còn bạn, đã bao giờ bạn tự định lượng chỉ số AQ của mình?

Thứ Năm, 10 tháng 10, 2013

Lý thuyết về ma trận BCG


BCG là tên của một công ty tư vấn chiến lược (strategy consulting) của Mỹ, the Boston Consulting Group. Công ty này thành lập năm 1963 do Bruce Henderson sáng lập. Sau đó, nó nhanh chóng trở thành một trong ba công ty tư vấn chiến lược hàng đầu trên thế giới, bao gồm: McKinsey, Boston Consulting và Mercer. Lĩnh vực chủ yếu của tư vấn chiến lược là: lập kế hoạch kinh doanh chiến lược, hoạch định chiến lược của công ty, hoạch định chiến lược marketing (cấp công ty) v.v... chủ yếu ở tầm CEO - cấp độ cao nhất trong một công ty.
Ngoài ra, có rất nhiều các công ty tư vấn khác (trong đó nổi bật nhất là các công ty tư vấn của các đại gia kiểm toán trên thế giới) thì không thuộc lĩnh vực tư vấn chiến lược mà chỉ là tư vấn quản lý (management consulting). Tự bản thân cái tên của hai lĩnh vực tư vấn cũng nói lên sự khác nhau của chúng.

Sau khi được thành lập, ngay trong thập kỷ 60, BCG dựa vào kinh nghiệm của bản thân các nhân viên của mình và đã "sản xuất" ra hai mô hình quan trọng (một là về lý thuyết và cái còn lại có tính thực tiễn cao hơn):
  • Đường kinh nghiệm (Experience Curve)
  • Ma trận BCG
Trước hết, xin phép được giới thiệu qua về Experience Curve

Experience Curve
mt01.jpg

Qua kinh nghiệm tư vấn cho các công ty đa quốc gia lớn, BCG nhận thấy một xu hướng là trong một ngành kinh doanh, chi phí sản xuất thường có xu hướng giảm dần theo thời gian. Do đó, họ đi đến một GIẢ THIẾT là: các công ty sẽ càng ngày hoạt động hiệu quả hơn nhờ kinh nghiệm họ tích lũy được trong việc sản xuất ra sản phẩm của họ. Mối quan hệ giữa chi phí sản xuất và kinh nghiệm sản xuất tích lũy được thể hiện thông qua chính cái gọi là đường kinh nghiệm (experience curve).

Họ cũng đưa ra một khả năng để giải thích sự chênh lệch về chi phí sản xuất giữa các công ty cạnh tranh nhau (kiểu như giữa Romano của Unza và X-Men của ICP) là do một số công ty đã tích lũy kinh nghiệm sản xuất và phát triển được kiến thức của họ về sản xuất sản phẩm đó trong khi các công ty khác chưa thể làm được điều này

Lý thuyết này diễn giải khá dài, tóm lược lại thì nếu nhìn vào trong đồ thị ở trên, các bạn có thể hiểu được là, nếu một công ty có 20 kinh nghiệm trong lĩnh vực sản xuất một sản phẩm thì từ năm thứ 10 trở đi đến năm thứ 20, chi phí sản xuấtsẽ giảm được 20%. Và sẽ tiếp tục tiếp tục và tiếp tục... nhưng không bao giờ giảm về ZERO cả

Experience Curve có một ý nghĩa quan trọng là: Nếu một công ty có thể gia tăng kinh nghiệm sản xuất của mình thông qua việc tăng thị phần thì công ty đó có khả năng đạt được lợi thế về chi phí trong ngành kinh doanh đó mà các đối thủ khó có khả năng đạt được => nó khuyên các công ty tập trung đầu tư nhằm nhanh chóng tăng thị phần vì khoản đầu tư này sẽ được bù đắp trong tương lai

Xu hướng mới trong chiến lược của các đại gia đã được khẳng định từ đó => đánh mạnh vào thị trường nhằm giành càng nhiều thị phần càng tốt, thời gian đầu lỗ đến mức nào cũng được vì sau này sẽ được bù đắp

Lý thuyết này cũng được xây dựng dựa trên một nguyên lý của kinh tế học -Tính hiệu quả về quy mô (economies of scale)

Trên cơ sở Experience Curve và Product Life Cycle, BCG xây dựng lên mô hình ma trận BCG

Ma trận BCG hay còn gọi là ma trận quan hệ tăng trưởng và thị phần (growth/share matrix) được xây dựng vào cuối thập ky 60. Nguyên tắc cơ bản của ma trận này chính là đề cập đến khả năng tạo ra tiền thông qua việc phân tích danh mục sản phẩm của 1 công ty và đặt nó vào trong 1 ma trận như dưới đây.
mt02.jpg
Từ đó giúp nhà Quản trị quyết định phân bổ vốn cho các SBU và đánh giá tình hình tài chính của công ty. Ma trận này là một bảng gồm 4 ô vuông trong đó:

*Trục hoành: Thể hiện thị phần tương đối của SBU được xác định bằng tỷ lệ giữa doanh số của SBU với doanh số của đối thủ đứng đầu hoặc đối thủ đứng thứ nhì.
*Trường hợp SBU không dẫn đầu ngành về doanh số, thị phần tương đối của SBU bằng tỷ lệ giữa doanh số của SBU đó với doanh số của đối thủ đầu ngành.
*Trường hợp SBU dẫn đầu ngành về doanh số, thị phần tương đối của SBU bằng tỷ lệ giữa doanh số của SBU đó với doanh số của đối thủ đứng thứ nhì trong ngành.
*Trục tung: Chỉ xuất tăng trưởng hàng năm của thị trường của tuyến sản phẩm mà SBU này kinh doanh tính bằng phần trăm . Nếu SBU có phần trăm lớn hơn 10% được xem mức MGR cao ( MGR: Market Growth Rate).

và tên của bốn phần của ma trận lần lượt là: Ngôi sao, Dấu hỏi, Bò sữa và Chó.

Các công ty sẽ phải xác định được tốc độ tăng trưởng của từng sản phẩm cũng như thị phần của từng sản phẩm này để đặt vào trong ma trận. Dựa trên ma trận này, BCG đưa ra 4 chiến lược cơ bản:
  • Xây dựng (Build):Sản phẩm của công ty cần được đầu tư để củng cố để tiếp tục tăng trưởng thị phần. Trong chiến lược này, đôi khi phải hy sinh lợi nhuận trước mắt để nhắm đến mục tiêu dài hạn. Chiến lược này được áp dụng cho sản phẩm nằm trong phần Dấu hỏi (Question Mark)
  • Giữ (Hold):Chiến lược này áp dụng cho sản phẩm nằm trong phần Bò Sữa (Cash Cow) nhằm tối đa hoá khả năng sinh lợi và sản sinh tiền
  • Thu hoạch (Harvest):Chiến lược này tập trung vào mục tiêu đạt được lợi nhuận ngay trong ngắn hạn thông qua cắt giảm chi phí, tăng giá, cho dù nó có ảnh hưởng tới mục tiêu lâu dài của sản phẩm hay công ty. Chiến lược này phù hợp với sản phẩm trong phần Bò Sữa nhưng thị phần hoặc tăng trưởng thấp hơn bình thường hoặc Bò Sữa nhưng tương lai không chắc chắn. Ngoài ra, có thể sử dụng cho sản phẩm trong Dấu hỏi nhưng không thể chuyển sang Ngôi sao hay Chó
  • Từ bỏ (Divest):Mục tiêu là từ bỏ sản phẩm hoặc bộ phận kinh doanh nào không có khả năng sinh lời để tập trung nguồn lực vào những sản phẩm hay bộ phận có khả năng sinh lời lớn hơn. Chiến lược này áp dụng cho sản phẩm nằm trong phần Dấu hỏi và chắc chắn không thể trở thành Ngôi sao và cho sản phẩm nằm trong phần Chó.
Các chiến lược đề xuất cho các ô của ma trận BCG là:
 
 
Suất tăng trưởng của thị trường
Tăng trưởng + 10%
II
Tấn công trực diện
Bao vây
III
 
Tấn công cạnh sườn
Tấn công đánh lạc hướng
Đình đốn 0%
I
Phòng thủ đi động
Phòng thủ tích cực
Phản công
Phòng thủ vị trí cạnh sườn
IV
 
Tấn công du kích
Phòng thủ di động
Rút lui chiến lược
Suy thoái – 10%
VI
 
Phòng thủ cố định
Phòng thủ vị trí cạnh sườn
Rút lui chiến lược
V
 
 
Rút lui chiến lược
Sức mạnh tương đối của sản phẩm
 
Khống chế
Bị khống chế
 
Doanh nghiệp khi phân tích ma trận BCG sẽ giúp cho việc phân bổ các nguồn lực cho các SBU một cách hợp lý, để từ đó xác định xem cần hay bỏ một SBU nào đó. Tuy nhiên ma trận này cũng bộc lộ một số điểm yếu là : Quá đơn giản khi chỉ sử dụng hai chỉ tiêu : RMS và MGR để xác định vị trí của USB trên thị trường mà không đưa ra được chiến lược cụ thể cho các SBU, không xác định vị trí của SBU kinh doanh các sản phẩm mới.

Ma trận BCG đơn giản hóa chiến lược thông qua hai yếu tố là tốc độ tăng trưởng sản phẩm và thị phần. Nó giả định rằng để có được tốc độ tăng trưởng cao thì phải sử dụng nhiều nguồn lực (và tiền) hơn. Nó không chỉ áp dụng cho sản phẩm mà có thể sử dụng để phân tích các bộ phận hay công ty con của một công ty => phân phối lại nguồn lực trong công ty
(TTVNOnline-Bigdaddy)

Thứ Hai, 30 tháng 9, 2013

Bảy cách chọn người của Gia Cát Lượng dựa trên 7 chữ: “Chí, Biến, Thức, Dũng, Tính, Liêm, Tín”. Cho tới nay, cách chọn hiền tài này vẫn còn nguyên giá trị.


Thời Tam Quốc, Gia Cát Lượng phò tá Lưu Bị. Ông là nhà chính trị, nhà chiến lược, nhà quân sự thiên tài. Sự kiệt xuất của ông khiến kẻ thù cũng phải kính nể. Những mưu lược của ông như “Khẩu chiến thuyết quần nho”, “Mượn gió Đông”, “Hỏa công Xích Bích”, “Ba lần chọc tức Chu Du”, “Mưu trí bày trận Hoa Dung”… khiến hậu thế phải nghiêng mình thán phục. Trong số những tư tưởng vượt trội của Khổng Minh, 7 tiêu chuẩn chọn hiền tài của ông vẫn còn nguyên giá trị.
giai-ma-7-cach-chon-nguoi-cua-gia-cat-luong1
Vừa qua, các nhà nghiên cứu lịch sử, xã hội học Trung Quốc đã tổ chức một số cuộc hội thảo phân tích về 7 cách chọn hiền tài của Gia Cát Lượng. Cụ thể, vị quân sư kiệt xuất này đã dựa trên 7 tiêu chí lớn: “Chí, Biến, Thức, Dũng, Tính, Liêm, Tín”.
giai-ma-7-cach-chon-nguoi-cua-gia-cat-luong2
1. “Vấn chi dĩ thị phi nhi quan kỳ Chí”. Nghĩa là hỏi họ về điều phải lẽ trái để xem xét chí hướng của họ. Muốn trọng dụng một người, trước tiên phải biết được ý chí, lập trường của người ấy ra sao. Nếu như đối phương lẫn lộn giữa điều phải lẽ trái hoặc mơ hồ giữa cái đúng cái sai, lập lờ trắng đen thì quyết không thể giao phó trọng trách. Bởi lẽ con người này không vững vàng, không kiên định về lập trường, dễ đổi trắng thay đen và dễ phản trắc.
giai-ma-7-cach-chon-nguoi-cua-gia-cat-luong3
Chí hướng là động lực thúc đẩy con người tiến lên. Người không có chí hướng thì không thể làm nên việc lớn. Người không có chí hướng chẳng khác gì người đi đêm không có trăng sao, người đi biển không có ngọn hải đăng. Bởi vậy, biết rõ được chí hướng của con người thì sẽ đánh giá được ý chí của họ. Không chỉ Trung Quốc, tại nhiều nước trên thế giới, phần lớn những nhà chính trị, nhà chiến lược, nhà quân sự nổi tiếng đều có chí hướng ngay từ khi tuổi còn nhỏ.
giai-ma-7-cach-chon-nguoi-cua-gia-cat-luong4
2. “Cùng chi dĩ từ biện nhi quan kỳ Biến”. Nghĩa là đưa ra nhiều câu hỏi, lý lẽ dồn họ vào thế đường cùng để xem khả năng ứng biến đối phó với các tình huống của họ. “Biến” ở đây là chỉ khả năng ứng phó, năng động. Khi chọn người, Gia Cát Lượng thường dồn dập đưa ra những lý lẽ, những tình huống để dồn họ vào thế đường cùng, thế bí nhằm xem xét khả năng đối phó, ứng biến của đối phương.
giai-ma-7-cach-chon-nguoi-cua-gia-cat-luong5
Người có khả năng ứng biến giỏi, nhất là các tướng cầm quân khi bị dồn vào thế đường cùng, họ ắt sẽ biết cách ứng phó, biết chuyển bại thành thắng, biết mở cho mình con đường sống. Người xưa có câu: “Sơn trùng thủy phục nghi vô lộ. Liễu âm hoa minh hựu nhất thôn”. Nghĩa là trong thế đường cùng bốn bề sông núi tưởng không lối thoát, nhưng người biết ứng biến, năng động vẫn có thể mở ra lối thoát tới nơi rực rỡ đầy hoa.
giai-ma-7-cach-chon-nguoi-cua-gia-cat-luong6
3 – “Tư chi dĩ kế mưu nhi quan kỳ Thức”. Nghĩa là dùng mưu kế của mình để tham khảo những mưu kế, sách lược của đối phương, thông qua đó có thể đánh giá những kiến thức của đối phương.
giai-ma-7-cach-chon-nguoi-cua-gia-cat-luong7
4 – “Cáo chi dĩ nan nhi quan kỳ Dũng”. Nghĩa là đặt ra những tình huống gian nguy, khó khăn để đánh giá sự dũng cảm của đối phương, nhất là đối với những tướng cầm quân ngoài mặt trận. Thời cổ đại, hai tiêu chuẩn rất quan trọng đối với tướng lĩnh là “Trung, Dũng”, tức là trung thành và dũng cảm. Người Trung Quốc xưa có câu “Hiệp lộ tương phùng dũng giả thắng”, nghĩa là hai đối thủ gặp nhau trên con đường độc đạo, người dũng cảm sẽ chiến thắng.
giai-ma-7-cach-chon-nguoi-cua-gia-cat-luong8
Khi lựa chọn hiền tài, Gia Cát Lượng thường đưa ra những nghịch cảnh, khó khăn gian nguy để thử thách sự dũng cảm của họ, bởi lúc lâm nguy tinh thần dũng cảm vô cùng quan trọng. Khắc phục một khó khăn có thể dễ dàng nhưng khắc phục 10 hay 100 khó khăn, gian nguy liên tiếp đòi hỏi con người phải có tinh thần dũng cảm vô song. Một nhà triết học người Đức từng nói: “Chỉ có con người nào đã từng trải qua sự giày vò của địa ngục thì mới có sức mạnh để xây dựng được thiên đường”.
giai-ma-7-cach-chon-nguoi-cua-gia-cat-luong9
5 – “Túy chi dĩ tửu nhi quan kỳ Tính”. Gia Cát Lượng cho đối phương uống rượu say để đánh giá tính tình, thực tâm của họ. Rượu là chất kích thích, khi bị say thì vỏ đại não bị tê dại, con người khi ấy bị mất lý tính, không còn ý thức được những hành vi của mình. Nên lời nói của họ không chút giấu giếm mà rất thực lòng. Từ đó Gia Cát Lượng đánh giá đúng thực chất tâm tính của đối phương.
giai-ma-7-cach-chon-nguoi-cua-gia-cat-luong10
6 – “Lâm chi dĩ lợi nhi quan kỳ Liêm”. Nghĩa là dành cho họ nhiều tiền tài, bổng lộc, thậm chí hứa giao cho trọng trách để đánh giá sự liêm khiết hay lòng tham lam của họ. Bản tính của con người thường có máu tham, hám lợi, tham tiền, nhất là những người làm quan và giữ trọng trách lớn. Gia Cát Lượng cho rằng, một người liêm khiết thường có những đặc điểm như: Trung thành vô hạn, Làm việc liêm khiết vô tư, Thấu hiểu nỗi khổ của dân chúng, Chú trọng tiết kiệm, Không hám giàu sang, không mê tửu sắc, Tự khép mình vào kỉ luật.
giai-ma-7-cach-chon-nguoi-cua-gia-cat-luong11
Khi làm Thừa tướng nước Thục, Gia Cát Lượng đưa ra nhiều đạo luật nghiêm khắc, nhưng không ai phàn nàn oán giận ông nửa lời. Bởi bản thân ông rất gương mẫu, liêm khiết. Nước Thục khi đó có nhiều quan thanh liêm và tướng tài, như Vận Tưởng Uyển, Đổng Hòa, Lưu Ba, Đổng Doãn, Dương Hồng. Thực tế cũng cho thấy, cổ kim đông tây, người nào vượt lên sự cám dỗ của tiền tài danh vọng thường là những quan thanh liêm, được lòng dân và góp phần làm cho đất nước hưng thịnh.
giai-ma-7-cach-chon-nguoi-cua-gia-cat-luong12
7 – “Kỳ chi dĩ sự nhi quan kỳ Tín”. Tức là giao việc cho họ để xem lời họ hứa so với thực tế làm việc ra sao, từ đó đánh giá chữ “Tín” của họ. Gia Cát Lượng cho rằng: “Ngôn nhi vô tín, bất tri kỳ khả dã”, tức là một người chỉ biết nói suông không đi đôi với việc làm, là người không có chữ tín.
giai-ma-7-cach-chon-nguoi-cua-gia-cat-luong13
Bởi vậy, có câu: “Thính kỳ ngôn, Quan kỳ hành”, tức nghe họ nói không đủ mà phải xem họ làm như thế nào. “Quốc vô tín bất hưng, nhân vô tín bất lập”, một đất nước mà không có chữ tín với các nước thì không thể hưng thịnh, một người không có chữ tín với mọi người thì không thể lập nghiệp.
giai-ma-7-cach-chon-nguoi-cua-gia-cat-luong14
(Kiến Thức)